Connect with us

Tin Tức tổng hợp 24h

Top 8 Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (Ngữ Văn 12) hay nhất

Chất thơ trong một tác phẩm văn xuôi không chỉ tăng sức biểu cảm cho nội dung tư tưởng tác phẩm mà còn thể hiện được tâm hồn tinh tế, sự gắn bó và thấu hiểu của tác giả của tác giả với đối tượng miêu tả. Bài văn phân tích những ý thơ, chất thơ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” mà Toplist đã tổng hợp dưới đây không chỉ giúp các em cảm nhận được tấm lòng của Tô Hoài đối với con người và vùng đất Tây Bắc và còn cung cấp những gợi ý cho các em khi viết bài phân tích truyện “Vợ chồng A Phủ” của ông.

Published

on

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 1

“Mỗi người nghệ sĩ có một cái tạng riêng, một tố chất tâm hồn riêng tạo nên một thứ nam châm hút lấy những cái gì phù hợp” (Nguyễn Đăng Mạnh). Có lẽ vì vậy mà mỗi khi đọc những tác phẩm của Nam Cao, như “Chí Phèo” chẳng hạn, tôi lại cảm, lại thấm thía cái nỗi đau tột cùng của người nông dân trong xã hội cũ. Cũng có những khi cuộc sống xô bồ, tôi lại tìm đến với Thạch Lam, mượn chiếc chìa khóa để bước vào cánh cổng của miền thần tiên, cổ tích, cảm nhận tâm hồn mình lắng lại “dưới bóng hoàng lan”. Nhưng không hiểu sao, tôi vẫn thích nhất cái cảm giác mỗi khi đọc những “trang thơ” rất thơ của Tô Hoài – “Vợ chồng A Phủ”.

Có lẽ “chất thơ” chẳng còn xa lạ gì đối với những bạn đọc yêu văn học, đặc biệt là với những thi gia, đó là tính chất trữ tình, tính chất được tạo nên từ sự hòa quyện giữa vẻ đẹp của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với vẻ đẹp của các biểu hiện nó để có thể khơi gợi những rung động thẩm mỹ và tình cảm nhân văn.

Thế nhưng có mâu thuẫn gì không khi nói một tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn cũng thấm đẫm chất thơ? Chúng ta hoàn toàn có thể và có quyền nói như vậy. Chất thơ tự bao giờ đã không còn bó hẹp mình trong khuôn khổ của những bài thơ trữ tình, nó đã tự bật tung, phát ra ánh sáng và phù lên văn đàn Việt Nam một lớp áo vô hình chỉ được cảm nhận bằng rung động con tim, xúc động tâm hồn.

Trên văn đàn Việt Nam có biết bao những tác phẩm văn xuôi thấm đẫm chất thơ nhưng không phải tác phẩm nào được sinh ra dưới ngòi bút của người nghệ sĩ đều mang sẵn trong mình tính chất trữ tình, đều thấm đẫm những ý thơ trong văn xuôi. Một truyện ngắn được coi là giàu chất thơ khi mối bận tâm của người viết không đặt vào việc kể lại một biến cố, sự việc, hành động mà là việc làm bật lên một trạng thái của đời sống hoặc của tâm hồn con người, và “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là một tác phẩm như vậy.

Cách đây hơn sáu mươi năm trước, có một người lữ khách đã băng rừng, lội suối để tìm đến với một vùng đất mới, để khai phá và mang những nét đẹp của một vùng đất xa xôi đến với bạn đọc bấy giờ: Tô Hoài trên con đường tìm đến với mảnh đất Tây Bắc thân yêu. “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn tập trung tinh hoa của ngòi bút Tô Hoài về Tây Bắc không chỉ vì nó đem lại những hương sắc lạ về cảnh trí, con người mà quan trọng hơn còn là khả năng phân tích tinh tế những diễn biến đầy mâu thuẫn của nội tâm, kết đọng một tình cảm nhân đạo đậm đà để rồi bao trùm lên tất cả là điều mà sau này Tô Hoài đã cảm thấy “một chất thơ vời vợi bay lên từ cảnh vật của nơi rừng núi tuyệt vời thơ mộng ấy”

Trước tiên tôi muốn nói tới một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn diệu kỳ của nơi rừng núi Tây Bắc. Một thế giới không phải cổ tích mà như thoảng hương ca dao, cổ tích, một thế giới hứa hẹn rất nhiều sức gợi cảm hiện lên qua bức tranh thiên nhiên sống động, quyến rũ, đẹp mê hồn của Hồng Ngài: “năm ấy, Hồng Ngài ăn tết sớm giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo Đô, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ”. Với những gam màu tự nhiên, tất cả cảnh vật, thiên nhiên, đất trời cùng thêu dệt tạo nên một bức tranh thủy mặc của tạo hóa chỉ được tìm thấy ở chốn núi rừng Tây Bắc.

Sẽ là chưa đủ nếu bức tranh ấy thiếu bóng dáng của con người. Tuyệt vời làm sao khi mỗi độ tết đến, người ta lại trông thấy “đám trẻ đội Tết, chơi quay, cười ầm trên sân trước nhà”. Rồi những đêm tình mùa xuân, những người con trai mang tiếng khèn, điệu nhạc đi tìm “bạn yêu”. Khung cảnh ấy mở ra trong tâm trí người đọc một miền đất thanh bình với những nét đẹp văn hóa bình dị nhưng đầy ý nghĩa đối với con người.

Thiên nhiên dù đẹp đến đâu cũng chỉ là phông nền cho con người tỏa sáng, truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” thơ nhất có lẽ phải kể tới bức tranh đời sống tâm hồn của con người nơi đây. Những cô gái như cô Mị tài sắc dù bị vùi dập bởi chế độ phong kiến miền núi, bởi nam quyền, thần quyền nhưng sức sống tiềm tàng chưa bao giờ tắt lịm. Những chàng trai như A Phủ dù cuộc đời trăm đắng ngàn cay nhưng vẫn đầy bản lĩnh, gan góc, quyết liệt, dữ dội.

Khi cánh cửa “Vợ chồng A Phủ” vừa mở ra, Tô Hoài đã dắt nẻo hồn ta đến với một con người hay đúng hơn là một kiếp người, một số phận nghiệt ngã qua hình ảnh của người thiếu phụ buồn “ngồi quay sợi bên tảng đá trước của, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợ, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Mị như một cái bóng, một mảng tối im lìm trong cảnh giàu sang của nhà thống lí Pá Tra. Càng ngày Mị càng không nói, chỉ “lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Người đàn bà ấy bị cầm tù trong ngục thất tinh thần, nơi lui vào, lui ra chỉ là một căn buồng kín mít “chỉ có một chiếc cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay”. Đã bao năm rồi, người đàn bà ấy chẳng biết đến mùa xuân, cũng chẳng đi chơi Tết.

Nhà văn có tả hình dáng nhưng không nhằm khắc họa chân dung ngoại hình mà chủ yếu làm nổi bật con người số phận, một số phận nghiệt ngã đắng cay, tủi cực. Điều đó có sức ám ảnh đối với độc giả, gieo vào lòng người đọc những xót thương. Ách áp bức nặng nề của bọn chúa đất miền núi, cả cường quyền và thần quyền đã đè nén một tâm hồn yêu đời khát sống trở thành một người hoàn toàn tê liệt về ý thức: “sống lâu trong cái khổ Mị cũng quen rồi”, “Mị tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa”, “Mị chỉ cúi mặt không nghĩ ngợi”, chỉ “nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau”, Mị không còn ý thức được về thời gian, tuổi tác và cuộc sống. Cô giống như một cỗ máy hoạt động theo một quy luật đã được lập trình sẵn. Mị vô cảm, không tình yêu, không khát vọng, thậm chí cũng không còn biết đến khổ đau.

Nhưng đâu đó trong thẳm sâu tâm hồn người đàn bà câm lặng vì khổ đau, cơ cực ấy vẫn tiềm ẩn một cô Mị ngày xưa, một cô Mị trẻ đẹp như đóa hoa nơi núi rừng Tây Bắc đầy sức sống, một người con gái trẻ trung, hiếu thảo. Ngày ấy tâm hồn yêu đời của Mị gửi vào tiếng sáo: “Mị thổi sáo giỏi, không có sáo, Mị uốn chiếc lá trên môi cũng hay như thổi sáo vậy”/ Ở Mị, khát vọng tình yêu, tự do luôn luôn mãnh liệt. Nếu không bị bắt làm con dâu gạt nợ, khát vọng của Mị sẽ trở thành hiện thực bởi “trai làng đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị”, Mị đã từng hồi hộp khi nghe tiếng gõ cửa của người yêu. Mị đã bước theo khát vọng của tình yêu nhưng không ngờ lại sớm rơi vào cạm bẫy.

Tất cả những phẩm chất trên đây sẽ là tiền đề, là cơ sở cho sự trỗi dậy của Mị sau này. Nhà văn miêu tả những tố chất này ở Mị khiến cho câu chuyện phát triển theo một hướng tự nhiên, hợp lý. Chế độ phong kiến nghiệt ngã cùng với tư tưởng thần quyền có thể giết chết mọi ước mơ, khát vọng, làm tê liệt cả ý thức lẫn cảm xúc con người nhưng từ trong sâu thẳm, cái bản chất người vẫn luôn tiềm ẩn và chắc chắn nếu có cơ hội nó sẽ bùng lên mãnh liệt.

Bị bắt về nhà thống lí làm con dâu gạt nợ, Mị định tự tử, Mị tìm đến cái chết chính là sự phản kháng duy nhất của một con người có sức sống tiềm tàng mà không thể nào làm khác được trong hoàn cảnh ấy, có đến “mấy tháng ròng đêm nào Mị cũng khóc”, Mị trốn về nhà cầm nắm lá ngón trên tay. Chính khát vọng được sống một cuộc sống đúng nghĩa đã khiến Mị không thể chấp nhận một cuộc sống bị chà đạp, bị đối xử như một con vật. Mị tìm đến cái chết như một sự giải thoát. Đêm tình mùa xuân là cái đêm đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời của Mị. Mị đột nhiên lại muốn đi chơi và sửa soạn để đi chơi. Tô Hoài đã bộc lộ tất cả những anh hao của mình trong việc lý giải sự chuyển biến tâm lý của Mị, nó vừa như là một hành động bộc phát, lại vừa là một hệ quả tất yếu của một sức sống tiềm tàng được khơi dậy, bùng lên để quên đi thực tại, sống với bản chất của mình.

Sự thức tỉnh ý thức của Mị trước hết là nhờ sự tác động của hoàn cảnh, khi mà Mị nhìn thấy vẻ đẹp của cảnh vật Hồng Ngài khi xuân đến. Nếu ngoại cảnh là chất xúc tác gián tiếp thì rượu là chất xúc tác trực tiếp để tâm hồn yêu đời khát sống của Mị trỗi dậy. “Mị lén lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát một” như nuốt cay, nuốt đắng, nuốt uất, nuốt hận vào lòng. Hơi men đã dìu tâm hồn Mị đi theo tiếng sáo.

Trong đoạn diễn tả tâm trạng hồi sinh của Mị, tiếng sáo có một vai trò đặc biệt quan trọng. “Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha bồi hồi, Mị ngồi nhẩm thầm lời bài hát của người đang thổi”. Với Mị, tiếng sáo là biểu tượng lôi cuốn nhất của mùa xuân, của khát khao hạnh phúc. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại dụng công miêu tả tiếng sáo nhiều lần đến vậy. “Tiếng sáo gọi bạn cứ tha thiết, bồi hồi”, “ngoài đầu núi lấp lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo”, “tai Mị vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”, “mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”. “Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, đám chơi”, “trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo”. Tô Hoài đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý nghệ thuật để lay tỉnh tâm hồn Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của khát vọng tình yêu tự do, là ngọn gió thổi bùng lên đốm lửa tưởng chừng đã nguội tắt.

Thoạt tiên, tiếng sáo còn “lửng lơ”, “lấp ló” ngoài đầu núi, ngoài đường. Sau đó tiếng sáo đã thâm nhập vào thế giới nội tâm của Mị và cuối cùng trở thành lời mời gọi tha thiết để rồi tâm hồn Mị bay theo tiếng sáo. Mị đã thoát khỏi tâm trạng thờ ơ, nguội lạnh lâu nay. Dấu hiệu đầu tiên của việc sống lại đó là Mị nhớ lại quá khứ, nhớ về hạnh phúc ngắn ngủi của tuổi trẻ của mình và niềm vui sống trở lại: “Mị còn trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ lắm. Mị muốn đi chơi”. Phản ứng đầu tiên của Mị là “nếu có nắm lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết” chứ không buồn nhớ lại nữa cái ngày xưa đẹp đẽ ấy bởi nhớ lại “chỉ thấy nước mắt ứa ra”. Những giọt nước mắt tưởng chừng đã cạn kiệt vì đau khổ đã lại có thể lăn dài. Đau khổ tưởng đã làm Mị tê liệt về lý trí lẫn tình cảm nhưng từ trong sâu thẳm, tâm hồn Mị không chết, Mị vẫn còn khóc được cho hoài niệm của mình, khóc cho vết thương tưởng như đã mãi mãi thánh sẹo, thành chai. Từ những sôi sục trong tâm tư đã dẫn tới hành động: “lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu”.

Đây là hành động của sự thức tỉnh. Mị muốn thắp sáng cho cuộc đời tăm tối của mình. Chi ít, thứ ánh sáng này cũng giúp Mị cảm thấy mình không phải là một thứ đồ vật bị lãng quên. Mị “quấn lại tóc”, “với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”. Và cứ như một người đàn bà mộng du, Mị quên hẳn sự có mặt của A Sử, quên hẳn mình đang bị trói mà tiếng sáo vẫn dìu tâm hồn Mị “đi theo những cuộc chơi, đám chơi”. Tâm hồn Mị đã thuộc về một thế giới khác, một thế giới lung linh như ngọc bích, lóng lánh như pha lê, một thế giới mà ở đó, Mị thổi sáo, Mị hát, Mị yêu và được yêu. Đó là một sức sống tiềm tàng, dữ dội và mãnh liệt.

Sức sống tiềm tàng, mãnh liệt ở Mị được biểu hiện rõ nhất ở hành động “vùng bước đi” giữa lúc cả người bị trói đứng vào cột. Chỉ khi “tay chân đau không cựa quậy được”, Mị mới sực tỉnh trở về hiện tại. Tiếng sáo im bặt, thay vào đó là “tiếng chân ngựa đạp vách” khiến Mị cay đắng nghĩ “mình không bằng con ngựa”. Trong tác phẩm, rất nhiều lần tác giả nhắc đến cuộn dây trói, đó là biểu tượng cho chế độ cường quyền và thần quyền khắc nghiệt, nhưng ngay cả khi cuộn dây thít chặt cũng không thể ngăn con người nghĩ đến cuộc sống, sống với thế giới của tình yêu và khát vọng.

Tô Hoài đã đặt sự hồi sinh của Mị vào một tình huống bi kịch: “khát vọng mãnh liệt – hiện thực phũ phàng khiến cho sức sống của Mị càng thêm phần dữ dội. Quá trình hồi sinh của một sức sống tiềm ẩn được nhà văn miêu tả không hề hời hợt, dễ dãi. Nhân vật thoát khỏi sự thờ ơ, nguội lạnh không hề đơn điệu, dễ dàng. Mị sống quá lâu trong cái khổ, vì thế, sự hồi sinh đến quá nhanh rất dễ gây cảm giác giả tạo. Đó phải là một quá trình chuyển biến lớn dần và phải có một sự tác động đặc biệt. Sự tác động đó không gì thay thế được chính là tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân. Một làn sóng cảm xúc đi qua, dù mãnh liệt cũng không thể làm thay đổi cuộc đời Mị. Nhưng những gì mà Tô Hoài viết về đêm tình mùa xuân ấy thật vô cùng ý nghĩa. Qua đây nhà văn muốn khẳng định: Sức sống của con người dù bị giẫm đạp, bị trói chặt vẫn luôn âm ỉ, chỉ cần gặp dịp là sẽ bùng lên.

Khi tiếng sáo im bặt, chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vách cũng là lúc mọi ký ức tan biến, cuộc đời Mị lại như những đêm đông trên miền núi cao, vừa dài vừa buồn. Trước cảnh A Phủ bị trói, Mị hoàn toàn vô cảm, vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay”. Có đêm, bị A Sử đánh gục ngay trên bếp lửa mà đêm say, Mị vẫn trở dậy thổi lửa, hơ tay như thế. Ta cứ tưởng như sức sống trong Mị như ngọn đèn cạn dầu, chỉ bùng lên rồi tắt ngấm. Nhưng không, phần trên mới chỉ là phần chuẩn bị cho một bước đột phá. Tâm hồn tê dại của người đàn bà ấy đột ngột bùng lên thật mãnh liệt: cắt dây cởi trói cứu A Phủ và tự giải thoát cho chính mình.

Hành động của Mị vừa mang tính tự phát, vừa có ý thức tự giác. Tự phát bở sự việc đến nhanh, đột ngột và Mị không kịp tính trước sẽ đi đâu, làm gì, ngay cả việc có chạy theo A Phủ hay không Mị cũng chỉ quyết định ngay sau khi cắt dây cởi trói, đứng lặng một phút trong bóng tối. Tô Hoài thật tinh tế và bản lĩnh khi sắp xếp chi tiết này bởi nếu không khéo rất có thể có hai khả năng xảy ra. Một là Mị trốn chồng vì khổ quá, hai là Mị bỏ chồng theo A Phủ vì A Phủ là người mà bao cô gái mong ước có được. Hai khả năng này đều hạ thấp giá trị nhân vật. Mị cắt dây trói cho A Phủ nhưng không hề chạy theo. Chỉ sau khi định thần lại nỗi hoảng sợ đã đẩy bàn chân Mị vùng chạy theo một cách tự nhiên.

Tuy vậy hành động của Mị chính là kết quả tất yếu của một con người có sức sống tiềm tàng. Hành động này có nguồn gốc từ bản chất của một người con gái hiếu thảo, yêu đời, ham sống trong quá khứ. Từ cái “buồn rười rượi”, từ cách uống rượu “ừng ực từng bát một” và ngay cả ý định tự sát của Mị nữa. Trực tiếp hơn là những giây phút Mị rạo rực nghe tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân. Sâu xa hơn nữa là vì Mị cảm thấy đau đớn giống như những lần Mị bị trói, Mị không thể để một con người vô tội phải chết dần trong đau đớn.

Tất cả được khởi dậy đúng lúc Mị trông thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã đen sạm lại của A Phủ”. Giọt nước mắt tuyệt vọng của A Phủ đã giúp Mị nhớ lại, nhận ra mình, xót xa cho mình, nhận ra sự tàn ác của nhà thống lí, tất cả đã khiến cho hành động của Mị mang tính tất yếu.

Tất nhiên Mị cũng rất lo lắng, hoảng sợ. Mị sợ mình bị trói thay vào cái cọc ấy. Khi đã chạy theo A Phủ, cái ý nghĩ ấy vẫn còn đuổi theo Mị: “Ở đây thì chết mất”. Nỗi lo lắng của Mị cũng là một khía cạnh của lòng ham sống, tiếp thêm sức mạnh cho Mị vượt lên số phận. Những vẻ đẹp đặc biệt là sức sống tiềm tàng trong tâm hồn của người con gái nơi núng rừng Tây Bắc đã làm cho truyện ngắn tỏa ngát hương thơm, thấm đẫm trữ tình. Lại một minh chứng cho tài hoa của người nghệ sĩ đã có công khai phá một vùng đất mới.

Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” sẽ vượt qua thách thức của thời gian để sống mãi với tâm hồn bạn đọc không chỉ bởi nhà văn đã đưa vào những “ý thơ trong văn xuôi” mà hơn hết ta cảm nhận được tấm lòng nhân đạo cao cả, luôn sẵn sàng “nâng giấc cho những kẻ cùng đường tuyệt lộ”.

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 1
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 1

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2


Bình An

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 2

Nói về việc sáng tác “Truyện Tây Bắc”, Tô Hoài cho biết, “ngoài tài liệu và trên cả sáng tạo”, ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình “những ý thơ”: “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt vặt thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề và khung cảnh đi”. Thật vậy, cụ thể trong “Vợ chồng A Phủ”, ta bắt gặp một trong những nét đặc sắc nhất của Tô Hoài là biệt tài phát hiện và chuyển tải chất thơ trong cuộc sống bình dị vào trang viết. Chất thơ man mác bao phủ bầu không khí của tác phẩm là sự cộng hưởng hiệu ứng của nhiều thủ pháp nghệ thuật, ánh lên từ tình huống truyện đầy nhân văn, từ ngôn ngữ hàm súc và giọng điệu trần thuật giàu tính nhạc. Để rồi từ đó, hiện lên trong tác phẩm bàng bạc chất thơ này là thiên nhiên, là lối sống, là phong tục và tâm hồn con người không lẫn vào đâu được.

Chất thơ trong sáng tác của Tô Hoài hiện lên trước hết qua hình ảnh thiên nhiên vời vợi với những núi non, nương rẫy, sương giăng… không thể lẫn được với một nơi nào trên đất nước ta. Những chi tiết miêu tả thiên nhiên đan xen, hoà quyện trong lời kể của câu chuyện. Có khi, chỉ một vài điểm nhấn, tác giả đã phác ra được cái nét rất riêng của đối tượng. Những ngày sống trong căn phòng ngột ngạt, tù túng của mình ở nhà thống lí Pá Tra, Mị nhìn ra trời qua khung cửa sổ bé bằng bàn tay, lúc nào Mị cũng “chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Không gian ấy chỉ có thể tìm được ở Tây Bắc bởi núi rừng trùng điệp. Ban ngày, ánh mặt trời cũng khó có thể xua tan những màn sương giăng trắng làng bản. Đêm xuống, sương đêm hòa với ánh trăng tạo nên thứ không gian huyền ảo như trong ảo mộng. Đặc biệt, nhà văn đã có những câu văn thật hay nêu bật được hình ảnh đặc trưng về thiên nhiên Tây Bắc những ngày giáp Tết: “Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”, “trẻ con đốt những lều canh nương”, “gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy hoa đã đem phơi trên những mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ, gió và rét rất dữ dội”. Những câu văn mang đầy “ý thơ” đã lột tả được hồn cốt thiên nhiên Tây Bắc với núi rừng trùng điệp, cao rộng vời vợi. Điểm vào cái nền thiên nhiên xanh mướt ấy là những dấu ấn của con người: những nương lúa, nương ngô uốn lượn trên sườn đồi sườn núi; những đống lửa bốc lên từ các lều canh nương; những đám cỏ gianh vàng ửng; những chiếc váy hoa xòe rực rỡ nhiều màu sắc của những cô gái H’mông là điểm nhấn đầy thi vị cho bức tranh thiên nhiên ấy.

Chất thơ còn được nhận ra bởi đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của con người nơi đây. Đọc truyện, ta rất dễ bắt gặp những hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong đời sống hằng ngày của đồng bào Tây Bắc. Đó là ngôi nhà gỗ với bếp lửa đặt trong nhà suốt mùa đông không tắt hòn than, là những công việc hằng ngày như cõng nước, cắt cỏ cho ngựa ăn, quay sợi,… Trang phục đặc trưng của người phụ nữ H’mông vùng cao này là váy xoè sặc sỡ đi kèm với những chiếc vòng bạc lấp lánh.

Truyện cũng miêu tả rất tinh tế một phong tục rất đẹp, rất thơ của đồng bào vùng cao là lễ hội mùa xuân. Tết của người vùng cao không giống tết ở miền xuôi. Người vùng cao có cách tính ngày Tết rất độc đáo thể hiện thuần túy tư duy nông nghiệp. Họ ăn tết khi ngô lúa đã gặt xong, mùa xuân có niềm vui thu hoạch mùa màng. Và dù cái Tết năm ấy đến Hồng Ngài “giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội” cũng không ngăn được niềm vui đang trỗi dậy trong tâm hồn những người dân ở đây, đặc biệt là ở những đôi trai gái yêu nhau. Không khí ngày xuân của Hồng Ngài mang những dấu ấn đặc trưng đậm hương vị núi rừng Tây Bắc: Mùa xuân đến, trai gái tìm đến nhau để tỏ tình. Họ bận những bộ quần áo đẹp nhất. Họ chơi ném còn, chơi quay, thổi sáo, đàn môi, uống rượu,… Tất cả đều mê mải, say sưa trong tiếng sáo dìu dặt, tình tứ.

Tô Hoài đã đặc tả không khí ngày tết với những từ ngữ giàu chất tạo hình, qua đó hiện lên bức tranh ngày tết miền núi tràn ngập màu sắc và âm thanh: “Trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên những mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ […] Đám trẻ đợi tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà”. Ông cũng đặc biệt chú trọng đến phong tục của họ qua con mắt tò mò, hóm hỉnh của mình: “Trai gái kéo nhau lên núi chơi. Đi chơi trên núi từng đoàn”, “Các chị Mèo đỏ, váy thêu, áo khoác, khăn hoa chùm rực rỡ. Các chị Mèo trắng chít khăn xếp phẳng lì, tóc mai cạo xanh nhẵn”.

Khi viết về những ngày tết ở Hồng Ngài, nhà văn Tô Hoài cũng rất chú ý miêu tả tiếng sáo. Sáo H’Mông có khả năng diễn tả ngôn ngữ của người H’Mông, thay họ nói lên tình cảm trong lòng: “Anh ném pao, em không bắt. Em không yêu, quả pao rơi rồi”. Đó là phương tiện giao duyên hữu hiệu của các chàng trai đối với con gái trong bản làng. Trong “Vợ chồng A Phủ”, ngòi bút Tô Hoài cũng tỏ ra rất thành công khi lột tả được nét đặc trưng, lột tả được “cái hồn” của tiếng sáo: “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”, “Tiếng sáo réo rắt suốt đêm ngoài đầu núi tranh”. Tiếng sáo còn là cách tỏ tình đặc biệt của người con trai miền núi: “Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách”. Thời gian cứ tiếp nối, những ngày tết vùng cao và đêm tình mùa xuân của ngày xưa và ngày sau dường như vẫn thế. Tiếng sáo gọi bạn tình vượt qua thời gian, tồn tại vĩnh hằng trong trái tim biết bao chàng trai cô gái miền sơn cước.

Bên cạnh những phong tục đẹp đẽ thể hiện tâm hồn thuần phác, nồng hậu của đồng bào Tây Bắc là những phong tục còn mông muội, chứa nhiều điều bất công vẫn còn tồn tại ở Tây Bắc những năm trước Cách mạng. Đó là sự phân chia đẳng cấp giàu – nghèo rất rõ. Trang phục của con nhà giàu cũng có những dấu hiệu khác: “Rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ mà chỉ riêng con cái nhà quan trong làng mới được đeo”. Đó là tục bắt vợ, cúng ma trình vợ đầy mê tín. Cái hủ tục lạc hậu ấy đã trở thành một thứ thần quyền ghê gớm án ngữ tư tưởng của người lao động nơi này, khiến họ luôn bị bóng đêm của sự mông muội đè nén, giày xéo không sao ngẩng đầu lên được. Đó là cái lệ đi ở trừ nợ: “bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”. Đặc biệt, hình ảnh ngôi nhà gỗ nghi ngút khói thuốc phiện với bữa tiệc phạt vạ được miêu tả trong câu chuyện không thể tìm thấy được ở vùng đất nào khác.

Tài năng của nhà văn tập trung trong việc quan sát, dựng cảnh sắc sảo cảnh xử kiện nhà thống lí Pá Tra. Dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn, hủ tục, lề lối, sự tàn bạo, dã man của thế lực phong kiến miền núi đã được lột tả hết sức sinh động: “Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu. Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, chửi, lại hút. Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ cửa sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút. […] Ngoài nhà vẫn rên lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kéo dài, giữa tiếng người khóc, tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch”. Phải thấm thía cảnh sống đau đớn, tủi nhục như thế, ta mới cảm nhận được hết sức mạnh “cởi trói” tựa như bản năng sinh tồn mãnh liệt của những thân phận bị chà đạp.

Tóm lại, nghệ thuật miêu tả sinh hoạt và phong tục của nhà văn đã giúp người đọc có thêm nhiều hiểu biết phong phú về đời sống của đồng bào Tây Bắc. Trong truyện ngắn này, bằng vốn hiểu biết phong phú và khả năng quan sát tinh tế, tác giả đã khắc hoạ lại được những bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng, thể hiện được nhiều phong tục độc đáo và miêu tả sinh động những người H’mông hồn nhiên, ngay thẳng. Từ cảnh xuân trên bản đến cảnh vui chơi trong ngày Tết, cảnh xô xát giữa hai đám thanh niên đến cảnh xử kiện,… tất cả đều được phác họa sống động, tài tình, tạo nên phong vị đặc trưng của vùng núi Tây Bắc cụ thể, xác thực.

Nét đặc sắc nhất của chất thơ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” biểu hiện ở tâm hồn nhân vật Mị. Ẩn sâu trong tâm hồn Mị, một cô gái tưởng chừng như héo hắt, sống một cuộc đời lầm lũi “đến bao giờ chết thì thôi” ấy, có ai ngờ, vẫn le lói những đốm lửa của khát vọng tự do, của tình yêu cuộc sống. Ở nhà thống lí Pá Tra, Mị có cái vẻ ngoài âm thầm chịu đựng nhưng bên trong, kỳ thực, đó lại là một sức sống tiềm tàng, rạo rực. Đúng như Tô Hoài đã nói: “Ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng”. Tính nhân văn trong câu chuyện là đây. Chất thơ đặc biệt được tác giả tạo nên là đây. Đó là khi nghe tiếng sáo gọi bạn trong những đêm tình mùa xuân vọng về, lòng Mị lại “thiết tha bổi hổi”. Tiếng sáo giao duyên ấy chạm vào phần sâu kín nhất của tâm hồn Mị, phần tâm hồn rạo rực của cô gái trẻ ngỡ như đã chết đi khi cô mang thân phận con dâu trừ nợ nhà thống lí Pá Tra. Tiếng sáo giao duyên ấy đã dẫn lối tâm hồn Mị trở về với ký ức của những ngày tự do xưa: “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Và tiếng sáo giao duyên ấy thức tỉnh tâm hồn Mị: “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…”.

Đến đây, ta chợt nhớ lại một câu châm ngôn rằng: “Cái chết không phải là mất mát lớn nhất trong cuộc sống. Mất mát lớn nhất chính là ta để tâm hồn mình lụi tàn ngay cả khi còn sống.” Mị, từ một nhân vật sống không bằng chết, nay đã sống lại trong tâm hồn. Và khi tâm hồn Mị không lụi tàn chính là khi sức sống tiềm tàng, rạo rực trong Mị chỉ chờ cơ hội đến là trỗi dậy mạnh mẽ. Như vậy, trong quá trình xây dựng nhân vật Mị với một cuộc đời đầy bi kịch, nhà văn Tô Hoài đã thật khéo léo thêm vào nhân vật mình một nét tâm hồn rất “thơ” và giàu tính nhân văn. Dù viết về mảng đề tài bi kịch trong cuộc sống của con người, những trang văn của Tô Hoài vẫn thấm đượm chất thơ. Chất thơ ấy chứa đựng trong nỗi khát khao mãnh liệt về một tương lai tốt đẹp, tươi sáng cho mỗi con người.

Làm nên chất thơ của “Vợ chồng A Phủ” không thể không nhắc đến ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn với hàng loạt các âm thanh, các hình ảnh gợi hình, gợi cảm rất nên thơ và đậm màu sắc. Ngôn ngữ văn xuôi của Tô Hoài ngoài cái ý nghĩa cụ thể trong từng câu chữ còn có một cái vô hình khó chỉ ra nhưng hoàn toàn có thể cảm thấy, đó chính là giọng điệu, là âm điệu câu văn cùng tiết tấu nhịp nhàng của nó. Tiết tấu đó chính là sự thể hiện những điệu tâm hồn, những cung bậc khác nhau trong tình cảm của nhà văn. Những điều này sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau, khi phân tích về nghệ thuật trần thuật của tác phẩm.

Tóm lại, chất thơ trong văn xuôi của Tô Hoài được tạo nên bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn cái khí sắc lãng mạn với bút pháp trữ tình cùng cái duyên mượt mà của một văn phong điêu luyện. Đó là kết quả từ việc nhà văn vận dụng các loại hình nghệ thuật như hội hoạ, âm nhạc vào nghệ thuật viết văn; là kết quả của sự cộng hưởng giữa thơ ca và văn xuôi. Chất thơ say đắm lòng người không chỉ ở vẻ đẹp huyền diệu của thiên nhiên mà còn ở những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn con người. Bên cạnh nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, Tô Hoài còn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi khả năng diễn đạt tài tình những rung động sâu xa, tinh tế trong thế giới đa cung bậc và muôn vàn sắc thái của tình cảm. Cảm thức tinh tế của Tô Hoài trong việc nắm bắt và tái hiện sự biến chuyển của màu sắc, âm thanh, ánh sáng, mùi vị trong thiên nhiên là một trong những yếu tố tạo nên bầu không khí trữ tình, trong trẻo, đẹp đẽ bao quanh thế giới nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài. Nhịp điệu, chất nhạc trong văn xuôi Tô Hoài bắt rễ từ vốn hiểu biết tinh tường về ngôn ngữ mẹ đẻ, những trực cảm tinh tế về ngôn ngữ.

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 2
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 2

3


Bình An

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 3

Tô Hoài là cây bút nổi tiếng ở thể loại truyện ngắn của văn học Việt Nam. Ông được mệnh danh là nhà văn của núi rừng Tây Bắc. Nhắc đến truyện ngắn của ông không thể không nhắc đến tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Trong thiên truyện ngày, người đọc không chỉ ấn tượng bởi những giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn dễ dàng rung động trước chất thơ thấm đượm qua từng câu chữ.

Chất thơ trong tác phẩm văn học chính là vẻ đẹp lãng mạn. Nó tương phản với đời sống hiện thực nhưng thoát lên từ đời sống hiện thực. Hiện thực là những cái vốn có, chân thật thì chất thơ là ước mơ, lý tưởng nâng đỡ con người. Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, chất thơ bàng bạc bao phủ khắp mọi ngóc ngách, lan tỏa những giá trị vô cùng đẹp đẽ.

Chất thơ trước hết hiện lên qua hình ảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc với núi non, nương rẫy, sương mù… đặc trưng, không trộn lẫn với bất kỳ địa danh nào. Khung cảnh nên thơ nên họa được Tô Hoài miêu tả một cách đầy cá tính và sáng tạo. Tây Bắc hiện lên với núi rừng trùng điệp quanh năm ẩn hiện trong mây và sương mù. Ban ngày, dù nắng lên cao cũng không thể xua tan làn sương giăng trắng. Đêm xuống, ánh trăng hòa quyện càng khiến không gian trở nên huyền ảo như chốn vô thực.

Đặc biệt, chất thơ được thể hiện rõ nét khi Tô Hoài lia bút miêu tả khung cảnh mùa xuân nơi rẻo cao Tây Bắc. “Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”, “gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy hoa đã đem phơi trên những mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ, gió và rét rất dữ dội”. Cái hồn cốt của thiên nhiên Tây Bắc đã được lột tả qua những câu văn mang đầy “ý thơ”. Những trang văn viết về thiên nhiên rẻo cao và mùa xuân ấy hài hòa, đẹp như bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi.

Bên cạnh đó, chất thơ còn được bộc lộ qua đời sống sinh hoạt và phong tục tập quán của con người nơi đây. Tô Hoài đã xây dựng những hình ảnh quen thuộc trong đời sống thường nhật của người Tây Bắc như ngôi nhà gỗ với bếp lửa bập bùng suốt mùa đông không, công việc cõng nước, quay sợi… lặp đi lặp lại của họ hay những chiếc váy xòe sặc sỡ, vòng bạc lấp lánh – trang phục dân tộc của người phụ nữ H’mông vùng cao.

Mỗi phong tục, mỗi thói quen của con người bước vào trang văn của Tô Hoài đều rất đẹp, rất thơ. Song ấn tượng nhất có lẽ là lễ hội Tết. Không giống như người miền xuôi, người vùng cao ăn tết khi ngô lúa đã gặt xong. Dù cho Tết năm ấy đến “giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội” cũng không dập tắt được niềm vui đang len lỏi trong tâm hồn. Không khí ngày Tết của Hồng Ngài mang đậm hơi thở, hương vị của núi rừng Tây Bắc khi “trai gái tìm nhau để tỏ tình”, chơi ném còn, chơi quay, thổi sáo, đàn môi, uống rượu…

Đặc biệt, tác giả dành nhiều tình cảm và câu chữ cho việc miêu tả tiếng sáo – cầu nói truyền tải ngôn ngữ của người H’Mông, thay họ cất lên tiếng lòng sâu thẳm: “Anh ném pao, em không bắt. Em không yêu, quả pao rơi rồi”. Năm tháng trôi qua, tiếng sáo đã trở thành nét độc đáo không thể thiếu của mảnh đất này: “Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách”. Tiếng sáo gọi bạn tình vượt qua dòng chảy thời gian, trở thành dòng chảy tâm hồn của biết bao đôi trai gái miền sơn cước.

Thiên nhiên trong “Vợ chồng A Phủ” mang đầy chất thơ, thiên nhiên lại là cái nôi nuôi dưỡng con người trưởng thành. Đi từ cội nguồn ấy, Tô Hoài bắt đầu hành trình khám phá chất thơ trong con người mà nét đặc sắc nhất được biểu hiện ở tâm hồn nhân vật chính – Mị. Mị là cô gái trẻ, nết na xinh đẹp như một bông hoa ban trên rẻo cao Tây Bắc, vì món nợ truyền kiếp của bố mẹ, Mị bị thống lý Pá Tra bắt về làm dâu trừ nợ và rơi vào cảnh tăm tối. Những tưởng ở nơi hang hùm nọc rắn với ựu lăm le hủy diệt bản tính tốt đẹp của cái ác, Mị có lẽ sẽ héo hắt, sống mòn mỏi lầm lũi hết cuộc đời “đến bao giờ chết thì thôi”. Song ẩn sau tâm hồn ấy vẫn le lói những ánh lửa của khát vọng tự do và tình yêu cuộc sống mãnh liệt.

Ở nhà thống lí Pá Tra, từng hành động, cử chỉ, vẻ ngoài của Mị đều toát lên vẻ âm thầm nhẫn nhịn, chịu đựng nhưng kỳ thực bên trong đó lại tiềm tàng một sức sống vô cùng mãnh liệt. Đúng như nhà văn Tô Hoài từng nhận định: “Ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng”. Vẻ đẹp nội tâm đáng trân trọng đó chính là tính nhân văn sâu sắc, là chất thơ đặc biệt được tác giả sáng tạo. Khi nghe tiếng sáo gọi bạn trong những đêm tình mùa xuân, lòng Mị “thiết tha bổi hổi”, âm thanh quen thuộc của núi rừng Tây Bắc ấy đã chạm vào sâu thẳm tâm hồn Mị, làm rạo rực tâm hồn người con gái trẻ đẹp ngỡ như đã chết đi khi về làm dâu trừ nợ nhà thống lí Pá Tra. Tiếng sáo giao duyên gợi mở trong tâm trí Mị những hồi ức của ngày xưa cũ, tự do, vui vẻ, ngày mà “Mị thổi sáo giỏi” “Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”.

Cũng tiếng sáo ấy đã thức tỉnh tâm hồn Mị, khiến “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước.” Lần đầu tiên sau bước ngoặt làm dâu nhà thống lí, Mị ý thức được bản thân “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…”. Từ tình trạng bi kịch sống không bằng chết, sống mà như cái xác không hồn, Mị nay đã sống lại thực sự, sinh động trong tâm hồn và suy nghĩ. Chính sức sống tiềm tàng, rạo rực âm thầm cháy tựa như ánh sáng nâng đỡ, ngăn cản sự lụi tàn của tâm hồn. Khi bùng cháy lên lại biến thành sức mạnh có thể xua tan tất cả. Để rồi từ đó, Tô Hoài đã khéo léo tái hiện nét “thơ” rất đẹp và giàu giá trị nhân văn trong quá trình xây dựng nhân vật. Ngay cả khi cuộc sống bế tắc trong bi kịch thì ông vẫn gửi gắm nỗi khát khao mãnh liệt về một tương lai tốt đẹp, tươi sáng cho mỗi con người.

Không những thế, chất thơ trong “Vợ chồng A Phủ” còn được thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo. Tô Hoài sử dụng hàng loạt âm thanh cùng nhiều hình ảnh gợi cảm vừa rực rỡ màu sắc vừa rất đỗi nên thơ. Ngôn ngữ văn xuôi vừa cụ thể rõ ràng vừa trừu tượng vô hình. m điệu và tiết tấu cũng như giọng kể nhẹ nhàng theo mạch cảm xúc êm đềm chảy trôi trong tâm trạng, tình cảm của người cầm bút. Trong thế giới đa cung bậc và nhiều màu sắc tình cảm, Tô Hoài còn có khả năng diễn đạt rung động, cảm xúc tinh tế một cách tài tình. Đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn khí sắc lãng mạn với bút pháp trữ tình cùng sự mượt mà của văn phong điêu luyện. Hội họa, âm nhạc được khéo léo lồng ghép trong văn học tạo sự hài hòa cộng hưởng thơ ca và văn xuôi.

“Vợ chồng A Phủ” với chất thơ bàng bạc len lỏi thực sự là tác phẩm văn học chân chính với nhiều giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Với những giá trị ý nghĩa về nội dung và sáng tạo mang dấu ấn riêng về nghệ thuật, truyện ngắn xứng đáng là tác phẩm tiêu biểu nổi bật cho hồn thơ Tô Hoài.

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 3
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 3

4


Bình An

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 4

Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài tính đến nay đã ngót 80 năm cầm bút. Ông đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ bao gồm hơn 200 đầu sách, hàng nghìn bài báo với nhiều thể loại phong phú, đa dạng. Mỗi người yêu văn Tô Hoài từ trong tiềm thức của mình, nhắc đến Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám ta không thể không nhắc đến tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu kí”. Sau Cách mạng, ông lại nổi lên với tập “truyện Tây Bắc” với ba truyện tiêu biểu đó là “Vợ chồng A Phủ”, “Cứu đất cứu Mường” và “Mường Giơn giải phóng”.

Trong đó, “Vợ chồng A Phủ” là linh hồn của cả tập truyện. Những năm gần đây người ta lại xôn xao nhắc đến ông với tác phẩm “Cát bụi chân ai” và tiểu thuyết “Ba người khác”. Đến nay “Vợ chồng A Phủ” vẫn là mốc thách thức với chính nhà văn Tô Hoài. Câu chuyện xoay quanh cuộc đời của những người nông dân trên rẻo cao Tây Bắc thông qua Nhân vật Mị – người con gái Mèo nghèo khổ, xinh đẹp, nết na được Tô Hoài xây dựng với sức sống tiềm tàng bất diệt. Toàn nội dung này được bao bọc trong một không khí bàng bạc tựa như sương núi, tựa như ánh trăng. Không khí ấy chính là chất thơ trữ tình – một nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Nhờ có nghệ thuật này này, “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài xứng đáng là minh chứng cho lời nhận định của một nhà phê bình văn học: văn học Việt Nam ở giai đoạn 1945-1975 có sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố hiện thực và lãng mạn.

Chất thơ trữ tình có thể được hiểu là vẻ đẹp lãng mạn trong một tác phẩm. Nó là vẻ đẹp bay bổng thơ mộng thoát lên từ đời sống hiện thực. Nó tương phản với đời sống hiện thực nhưng lại trong một thể thống nhất. Nếu hiện thực là miêu tả những cái vốn có, hiện có thì vẻ đẹp lãng mạn là ước mơ, là lý tưởng để nâng đỡ con người vượt qua đời sống hiện thực vốn trần trụi, quen nhàm. Vì vậy, vẻ đẹp lãng mạn hay chất thơ của tác phẩm là đối tượng tìm kiếm của mọi ngành nghệ thuật. Văn xuôi cũng đi tìm cho nó một vẻ đẹp rất riêng.

Một người nghệ sĩ tài ba, một người nghệ sĩ mẫn cảm là người phải tìm thấy chất thơ của cuộc sống, hương vị của cuộc ðời ở những chỗ tưởng chừng như không có một chút thơ mộng nào. Tô Hoài là một nhà văn như thế, bởi “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm thấm đẫm và lai láng chất thơ. Ta nhận thấy từ thiên nhiên nói đây cho đến cuộc sống con người từ tảng ðá, bìa rừng cho đến những nỗi khổ đau của con người nơi đây đều được bao bọc trong một không khí bàng bạc tựa như sương núi, tựa như ánh trăng. Không khí ấy chính là chất thơ trữ tình của nhà văn Tô Hoài. Đây là một trong những lý do tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” được giải thưởng văn học năm 1954-1955 và được xem như một truyện ngắn xuất sắc viết về đề tài miền núi Tây Bắc.

Như đã nói chất thơ hay vẻ đẹp lãng mạn chính là vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình người. Đến với vẻ đẹp lãng mạn trong “Vợ chồng A Phủ”, ấn tượng đầu tiên của người yêu văn đó chính là vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên nơi đây. “Vợ chồng A Phủ” lấy bối cảnh là thiên nhiên rẻo cao Tây Bắc – một khung cảnh vô cùng nên họa nên thơ mà đã hơn một lần bước vào những trang văn của Nguyễn Tuân: nơi ấy có thung lũng lúa chín vàng, có đá chìm đá nổi, có gió cuốn mây bay, có nắng vàng rực rỡ… Khung cảnh thiên nhiên ấy đã được Tô Hoài triển khai một cách rất cá tính, rất sáng tạo. Nói đến thiên nhiên nơi đây thì phải nói đến nơi có ngọn núi quanh năm ngập trong mây và sương mù; nơi có những cánh rừng bạt ngàn nương rẫy khi thì xanh mướt lúa ngô, khi thì sặc sỡ hoa thuốc phiện nơi có những bản làng tụ quanh nguồn nước và dòng suối… Hàng ngày, từng đàn gia súc được lùa ra trên khắp bản làng. Chiều về, cả con người và cảnh vật chìm dần trong hơi sương. Đêm đến, họ vây quanh đống lửa bập bùng.

Đọc những trang văn của Tô Hoài, người yêu văn còn bắt gặp hình ảnh của người dân rẻo cao đi làm nương, đi hái củi, hái lá, trỉa bắp, chăn thả bò ngựa. Đời sống của họ lam lũ, vất vả nhưng nhịp sống của họ đều đặn, êm đềm trôi hết năm này sang năm khác. Chưa một lần đặt chân lên rẻo cao Tây Bắc, chưa một lần đến với con người nơi đây nhưng những trang văn đầy thơ mộng của Tô Hoài đã đưa người yêu văn đến chứng kiến cuộc sống của con người ở rẻo cao này. Từ nhận thức ấy, mỗi người yêu văn tự rút ra cho mình một bài học nhân sinh bởi văn học luôn thanh lọc tâm hồn của người đọc, nó mang đến, chất chứa biết bao nhiêu nỗi khổ đau. Nó như một trang đời mà người yêu văn có thể rút ra những bài học qua từng chữ từng câu.

Không chỉ dừng lại ở đó, chất thơ của câu chuyện còn được bút lực của nhà văn Tô Hoài tập trung miêu tả ở khung cảnh mùa xuân nơi rẻo cao Tây Bắc. Có thể khẳng định những trang văn viết về mùa xuân của nhà văn Tô Hoài là những trang văn tuyệt bút. Những trang văn viết về thiên nhiên rẻo cao, viết về mùa xuân ấy chẳng khác nào những bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi. Nghệ thuật này ta đã từng bắt gặp ở ngòi bút của Thạch Lam trước Cách mạng ở Nguyễn Tuân khi ông viết tùy bút “Sông Đà”.

Năm ấy xuân về sớm hơn mọi năm, Hồng Ngài có tục lệ cứ gặt hái xong là ăn tết. Tác giả miêu tả những làn gió đẹp mùa xuân về trên khắp bản làng. Tất cả không khí nơi đây đều là không khí ngày hội. Trên những bản của người Mèo Đỏ, trai gái mang váy áo ra phơi trên mỏm đá trông sặc sỡ như những cánh bướm khổng lồ. Chất thơ của xứ sở đây còn được tụ vào trong những đám hội. Ban ngày, từng đám thanh niên mặc váy áo mới xòe ô dắt ngựa đến đánh quay, ném pao, tung còng… Tối đến, trong không gian kia những tiếng kèn lá, kèn môi của trai gái gọi bạn tình lại réo rắt đi hết quả đồi này sang quả đồi khác… Tất cả những không khí lễ hội mùa xuân này làm câu chuyện hiện lên không chỉ đẹp về cảnh sắc thiên nhiên mà còn đẹp về lễ hội mang tính lịch sử của dân tộc.

Như vậy rõ ràng thiên nhiên trong tác phẩm này mang đầy chất thơ. Mà thiên nhiên lại là cái nôi để con người ta sinh ra và lớn lên trên đó. Đứng trong cái nôi thiên nhiên đầy chất thơ này, nhà văn đã tập trung vào để đi tìm chất thơ trong tâm hồn của con người rẻo cao Tây Bắc: chất thơ của tình người. Nếu đi tìm chất thơ trong một tác phẩm văn xuôi mà ta chỉ dừng lại ở khung cảnh thiên nhiên thôi thì vô hình chung ta đã coi tác phẩm này như một bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi rồi. Trong một tác phẩm văn xuôi, yếu tố quyết định đến sự thành bại của nó không gì khác hơn chính là nhân vật. Nhân vật càng chân thực, sống động bao nhiêu tác phẩm càng thành công bấy nhiêu. Vì vậy, chất thơ trong tác phẩm còn được tập trung ở vẻ đẹp của nhân vật, vẻ đẹp của tình người.

Đầu tiên ta thấy ở đây, nhà văn tập trung miêu tả tình người ở những con người ở rẻo cao Tây Bắc. Họ đang phải sống trong địa ngục trần gian, phải sống ở Hồng Ngài – nơi cái ác hiện lên từng ngày từng giờ và phát triển đến cùng cực. Như đã biết, truyện xoay quanh cuộc đời của Mị – một cô gái nết na xinh đẹp được ví như một bông hoa ban trên rẻo cao Tây Bắc nhưng vì món nợ truyền kiếp mà bố mẹ Mị vay của thống lí Pá Tra, Mị đã bị thống lý bắt về trừ nợ. Ở nhà thống lí – nơi hang hùm nọc rắn, nơi thiên la địa võng, nơi cái ác lúc nào cũng muốn lăm le hòng tiêu diệt bản tính tốt đẹp của con người. Nhưng không phải vì thế mà người dân vùng cao bị sói mòn tình người, bị cằn cỗi tâm hồn. Ngược lại, ngay trong địa ngục trần gian ấy, lòng tốt của con người vẫn được bộc lộ, đức tính tốt đẹp của con người vẫn thăng hoa, cái đẹp vẫn nổi loạn ngay trong lòng cái ác. Điều này được thể hiện rất rõ giữa sự giằng xé của tình phụ tử giữa cha con nhà Mị.

Mị tuy đang sống hạnh phúc trong những ngày với mối tình đầu của mình nhưng vì thương cha Mị đành chấp nhận vào nhà thống lí Pá Tra. Vào cái nơi địa ngục trần gian này, có những lúc Mị tưởng chừng như không tồn tại được. Mị đã từng nghĩ đến cái chết. Nhưng về đến nhà, thấy rõ gia cảnh nhà mình, thấy bố Mị nói như van xin: “Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!” Mị đã phải đứng trước một tình huống oái oăm, éo le, cay cực: sống không muốn, chết cũng không xong. Cuối cùng, Mị đã không chết bởi Mị không bước qua được tình phụ tử, không bước qua được chữ “hiếu”. Nói cách khác, chữ “hiếu” đã giúp Mị tồn tại để vượt qua cái hang hùm nọc rắn này. Như vậy ở đây, chữ “hiếu” vẫn thăng hoa, lòng tốt của con người vẫn được gìn giữ ngay ở trong địa ngục trần gian.

Còn về phía người cha già cả cuộc đời lam lũ vất vả, mong sao thoát khỏi cảnh nghèo nhưng cũng không xong, bị lâm vào bước đường cùng và phải gả bán con gái cho nhà giàu mà ruột gan tan nát. Như vậy, nhà văn Tô Hoài đã phát hiện thấy ở đây tình người, tình phụ tử của cha con nhà Mị đã chiến thắng ở trong ngục tối, muốn khẳng định rằng tất cả những gì là tốt đẹp của cuộc đời không bao giờ bị hủy diệt. Cái đẹp luôn luôn tồn tại mãi cùng với thế giới. Dù nó có phải sống trong lòng của ngục tối, trong lòng của cái ác thì cái đẹp cuối cùng vẫn chiến thắng.

Bên cạnh đó, tình người ở đây còn được thể hiện rất rõ ở sự thương cảm Mị dành cho A Phủ. Thân phận của Mị và A Phủ cũng chẳng hơn nhau gì. A Phủ là một đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống bộc trực thẳng thắn. Một lần đánh lại A Sử con quan, A Phủ đã bị bắt về nhà thống lí Pá Tra làm nô lệ. Hàng ngày A Phủ phải đi chăn thả bò ngựa, đi săn bò tót, bẫy nhím…một lần mải mê bẫy nhím, A Phủ đã để hổ vồ mắt một con bò. Nhân sự kiện này, gia đình nhà thống lí Pá Tra đã đánh trói A Phủ giữa những ngày đầy sương muối ở vùng cao.

Đêm nào dậy cời than để hơ tay, Mị vẫn nhìn thấy A Phủ nhưng cô không động lòng thương bởi sống quá lâu trong địa ngục trần gian nơi việc đánh trói con người xảy ra nhiều hơn cơm bữa, lòng thương người của Mị đã bị chai sạn, trơ lì. Hôm nay thì khác. Nghe thấy tiếng thở phì phì của A Phủ, Mị nhìn sang, giật mình nhận thấy chàng trai to khỏe nhất bản giờ đã bị đánh đến tiều tụy. Đúng lúc ấy, hai hàng nước mắt của A Phủ lặng lẽ bò xuống hõm má. Có lẽ hai dòng nước mắt ấy đã thấm sâu vào trong tâm hồn của người con gái Mèo nết na xinh đẹp nhưng đang bị chai sạn, chai lì. Động lòng thương, Mị đã cứu A Phủ và hai người đã giải phóng cho nhau. Tất cả những điều ấy chính là chất thơ của tình người. Nó muốn khẳng định răng cái ác dù hiện ra dưới muôn nẻo của cuộc sống nhưng cuối cùng cũng bất lực trước cái thiện. Cái thiện là bất diệt với cuộc đời.

Một cái nét đẹp nhất trong chất thơ của tình người, quyết định đến tất cả những gì đã nêu trên đó là sức sống tiềm tàng của Mị. Nhân đây ta nhắc qua sức sống tiềm tàng của Mị. Hiểu nôm na, sức sống tiềm tàng sức sống tiềm ẩn dưới đáy sâu tâm hồn của con người. Nó là toàn bộ sức mạnh về tinh thần và thể chất của một con người. Ở nhân vật Mị, sức sống tiềm tàng được biểu hiện là khát vọng cháy bỏng chân chính muốn sống một cuộc đời hạnh phúc trong tự do. Niềm khao khát ấy âm ỉ cháy dưới đáy sâu tâm hồn của Mị như một ngọn lửa chưa bao giờ tắt hẳn, chỉ chờ thời cơ để bùng lên. Nó như một chồi cây đâm sâu trong lòng đất chỉ chờ cơ hội để phát triển.

Giả sử nếu sức sống ấy chết đi, có nghĩa là Mị không tồn tại thì điều đó đồng nghĩa với cái đẹp đã hoàn toàn thất bại trước cái ác, cái ác đã thăng hoa thì đây không còn là một tác phẩm nhân đạo chân chính nữa. Chính sức sống này đã giúp Mị giải thoát người cùng cảnh ngộ và giải thoát được chính bản thân mình. Chính sức sống ấy đã đưa hình tượng người nông dân trước Cách mạng tăm tối như cuộc đời của Chí Phèo, của chị Dậu, của Anh Pha đến với ánh sáng của Cách mạng. Sức sống ấy đã đưa ra chân lý của thời đại: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những gian khổ, hy sinh. Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới. Điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy…” (Nguyễn Khải)

Heming way đã từng nói: “Các cuốn sách có sự bất tử của nó. Đó là sản phẩm bền vững của lao động con người. Các đền đài sụp đổ, các tranh tượng rồi tiêu tan, nhưng sách thì tiếp tục tồn tại”. Một trong những cuốn sách ấy là “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài. Ai đã từng một lần đọc tập “Truyện Tây Bắc” hẳn sẽ chẳng thể nào quên truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” với cảnh sắc thiên nhiên con người Tây Bắc và con người nơi đó. Và để lại dấu ấn khó phai trong tâm trí người có lẽ là chất thơ, chất Tây Bắc đậm đặc của thiên truyện. Mang đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ về miền đất cực Tây của Tổ quốc.

“Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm văn chương đậm đà chất thơ. Chúng ta đã biết văn xuôi là sợi cốt còn thơ là sợi ngang… “Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc giục, không dẫn dắt ta đi đâu cả”. Phađê ép khẳng định: “Văn vuôi cần phải có cánh. Đôi cánh ấy chính là chất thơ, chất thơ chính là chiếc cầu mềm mại đưa văn xuôi vào hồn người êm ái, dịu dàng”. Bằng tài năng cùng sự nhậy cảm với cuộc đời của mình, Tô Hoài chắp cánh cho những trang văn của mình để chất thơ được bay cao và tỏa sáng một tâm hồn mẫn cảm.

Sự xâm nhập mạnh mẽ của yếu tố trữ tình và chất thơ vào văn xuôi, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn đã làm cho truyện của Bunhin có sức cuốn hút và lay động tâm hồn người đọc, tạo nên đặc sắc trong văn xuôi của ông. Nhà văn K.Pautốpxki cho rằng: “Văn xuôi là sợi cốt, thơ là sợi ngang. Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa chất thơ sẽ trở thành thô thiển”. Chất thơ như dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng văn xuôi làm cho thể loại này trở nên nhẹ nhàng đằm thắm, bay bổng và dễ đến với tâm hồn đọc giả. Đối với truyện ngắn thì chất thơ và tính trữ tình lãng mạn càng hết sức quan trọng. Về vấn đề này, nhà văn R.Gamzatốp khẳng định: “Truyện ngắn hay nhất nếu bị ghép vần có thể biến thành bài thơ dở nhất. Thơ trong truyện có lẽ như muối trong thức ăn”. Ở một cách hiểu rộng hơn về văn chương đồng thời khẳng định vai trò của chủ thể sáng tạo, M.Prisvin chỉ ra: “Văn chương, đó là thơ ca của cuộc sống nhẹ nhàng. Còn như nghệ thuật, nó thực sự đi ra từ cuộc sống bên trong, một cuộc sống biểu lộ trong ấy cái cảm hứng của con người trước sự bất tử”. Sự thống nhất giữa cái đẹp của đời sống hiện thực và cái đẹp của tâm hồn nhà văn trên cơ sở trí tưởng tượng phong phú của người nghệ sĩ là biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi Bunhin. Sự giao hòa giữa tâm hồn nhạy cảm của tác giả với vẻ đẹp của con người và thiên nhiên cũng là một nhân tố tạo nên chất trữ tình sâu lắng.

Rõ ràng “Vợ chồng A Phủ” mãi mãi là hành trang để chúng ta bước vào cuộc sống. Mỗi một tác phẩm văn học chân chính là một lời đề nghị về cách sống, có khả năng nhân đạo hóa con người. “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm như vậy.

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 4
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 4

5


Bình An

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 5

Tô Hoài được mệnh danh là nhà văn “sinh ra để viết” (Tế Hanh). Hơn sáu mươi năm cầm bút, ông đã để lại gần hai trăm đầu sách với nhiều thể loại – truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, hồi kí,… Riêng truyện ngắn, độc giả nhớ nhất và bản thân nhà văn tâm đắc nhất có lẽ vẫn là Vợ chồng A Phủ. Nói về sức cuốn hút của tác phẩm này, người đọc nhắc nhiều đến vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục, tập quán của các dân tộc miền núi; khả năng quan sát tinh tường, lối trần thuật tự nhiên, hóm hỉnh của một người cầm bút từng trải, sắc sảo; tài nghệ phân tích tâm lí nhân vật, vốn ngôn ngữ dồi dào;… Nhưng tôi vẫn nghĩ, điều thú vị nhất là ở chỗ, Tô Hoài đã mang được vào truyện ngắn Vợ chồng A Phủ cái chất thơ riêng của miền Tây Bắc.

Trong cuốn sổ tay viết văn Tô Hoài từng tâm sự về những ý thơ trong văn xuôi: “Vâng, đúng là những ý thơ, đã từ lâu tôi làm, tôi cảm thấy mà chưa phân tích được”. Theo ông, những ý thơ đó sẽ làm nên cái giá trị “ngoài tài liệu và trên cả sự sáng tạo”. Ở đây, tác giả Sổ tay viết văn đã có sự gặp gỡ với quan niệm của nhiều nhà văn lớn: A.Puskin từng ví chất thơ trong văn xuôi như “chất nước ngọt ngào thấm trong trái táo”; L. Tôn-xtôi không chấp nhận ranh giới giữa văn xuôi và thi ca. Thậm chí, K. Pau-tốp-xki còn khẳng định rằng: “Văn xuôi là sợi cốt, còn thơ là sợi ngang. Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả”… Cũng chính họ – các nhà văn đích thực, bằng tác phẩm của mình, đã giúp cho người đọc hiểu thế nào là chất thơ trong văn xuôi. Đó có thể là những cánh đồng Nga, tâm hồn Nga hiển hiện trên trang văn Puskin; là lời thì thầm của cây sồi mùa đông, là hình ảnh người thiếu nữ muốn bay lên cùng ánh trăng (L. Tôn-xtôi) hay giai điệu ngọt ngào, say đắm, nồng ấm tình đời của Âm nhạc Véc-đi, Lắng quả thông(Pau-tốp-xki),… Cũng có thể là khí nhà văn khiến ta nhớ mãi cả mùi cát bụi “quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng đấy là mùi riêng của đất, của quê hương này” (Thạch Lam); hay bấy nhiêu ngạc nhiên, cảm động, bâng khuâng, ăn năn, khao khát,… được đánh thức nhờ hương thơm của một bát cháo hành (Nam Cao)… Chất thơ có khi đọng lại trong chi tiết, hình ảnh; có lúc thấm đượm trong bức tranh đời sống hay lan toả vào câu chữ…

Trở lại với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nếu “đọc vội” cũng có thể thấy được sự phong phú của hiện thực đời sống, đón nhận được niềm cảm thương, trân trọng của tác giả dành cho những phận người cùng khổ ở miền cao Tây Bắc. Các giá trị đó được “tường minh” bằng cốt truyện với sự tương phản quen thuộc của hai phần đời. Lối kể truyền thống, cách xây dựng nhân vật cũng chưa có gì là “đột phá”… Nhưng muốn nắm bắt được những ý thơ toát lên từ cảnh sắc và tâm hồn con người nơi đây, thì có lẽ phải đọc chậm, đọc sâu.

Đọc chậm để các giác quan và trí tưởng tượng có thể “theo kịp” ngòi bút của nhà văn khi vẽ nên quang cảnh Tết đầy khác biệt trên núi cao. Tết ở đây không đến trong làn mưa bụi giăng mù gọi chồi non, lộc nõn; cũng không phải với những rừng đào, rừng mận tưng bừng khoe sắc vẫn mặc nhiên hiện về mỗi khi người ta nghĩ tới mùa xuân Tây Bắc. Nó không về theo lời hẹn trước, không nhất nhất phải đồng hành cùng tháng ấy, ngày ấy trên tấm lịch… Trái lại, người dân vùng núi miền Tây “cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kê ngày tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới”. Nhịp sống của con người “hòa thuận” một cách hồn nhiên, tự nhiên cùng nhịp điệu của thiên nhiên, vũ trụ như thuở sơ khai. Khi “các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp tên đầy các nhà kho”, người được an nhàn, thư thái thì vui chơi đón Tết. Có phải vì thế mà Tô Hoài tả cảnh Tết đến vào lúc “gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội”, nhưng vẫn gọi được cái không khí náo nức, tươi tắn của mùa xuân? Ngòi bút của nhà văn chỉ phát qua vài sắc màu đậm chất địa phương, và âm thanh quen thuộc của đời thường cũng đủ khiến lòng người háo hức không kém gì đám trẻ “đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà”. Hình ảnh những chiếc váy hoa “đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ” trong các làng Mèo Đỏ và tiếng sáo gọi bạn đi chơi “lấp ló ngoài đầu núi” mang hương vị độc đáo của mùa xuân Tây Bắc. Tết ở đây gắn liền với những đêm tình nồng nàn, mê đắm: “trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách”. Có cả bữa cơm Tết cúng ma, bữa rượu bên bếp lửa, rồi “người nhảy đồng, người hát”… Bằng lối “điểm xuyết” như thế, Tô Hoài dần xoá đi khoảng cách thời gian và không gian, đưa người đọc nhập vào nhịp sống riêng của miền đất này.

Đọc sâu để “đầu và tim” (theo cách nói của Nguyễn Tuân) có thể cảm nhận được cái chất thơ vút lên từ cuộc sống của những con người bị vùi dập trong đau khổ, bất hạnh nhưng chưa bao giờ lụi tắt khát vọng sống, khát vọng tình yêu và tự do. Một A Phủ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, không họ hàng thân thích mà lớn lên vẫn là chàng trai tài khéo, mạnh mẽ, táo bạo của núi rừng: “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo”. Dẫu nghèo khó, “Tết đến […] chẳng có quần áo mới như nhiều trái khác […] chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ”, A Phủ vẫn mang khèn, sáo đi tìm người yêu. vẻ hoang sơ của những cánh rừng, vóc dáng hiên ngang của những ngọn núi miền Tây như đã hun đúc cho chàng trai này tính cách bướng bỉnh, gan góc và lòng ham sống mãnh liệt. Nó trao cho A Phủ sức mạnh để đối mặt với bạo lực, cường quyền; vượt lên những nỗi hèn, nỗi sợ truyền kiếp để giành lại cuộc sống tự do…

Chất thơ toả sáng từ tâm hồn Mị – người con gái dẫu đi qua chốn địa ngục trần gian vẫn ấp ủ trong lòng bao xúc cảm đẹp đẽ và nồng ấm tình người. Tôi cứ nghĩ về nhân vật này như cô Tấm miền Tây Bắc – bị đày đọa đến chết đi sống lại nhưng luôn tiềm tàng sức sống. Diễn biến hai cuộc hồi sinh của tâm hồn Mị xứng đáng được liệt vào hàng những trang văn giàu ý thơ nhất của Tô Hoài.

Cuộc hồi sinh thứ nhất diễn ra trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài. Lúc đó, kiếp con dâu gạt nợ ở nhà thống lí đã biến Mị từ một cô gái trẻ trung, tài hoa, mạnh mẽ… thành người đàn bà nhẫn nhục, chai sạn trước đau khổ. Cô vẫn sống nhưng đã mất dần những dấu hiệu của một con người: không giao tiếp, không xúc cảm và suy nghĩ, không kí ức, “chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại” như con trâu phải nhớ luống cày, con ngựa phải nhớ đường đi. Mị mất cảm giác về thời gian, không gian; mất luôn cả ý thức về sự tồn tại của chính mình. Với cô, thế giới bên ngoài chỉ còn là một ô vuông bằng bàn tay “mờ mờ trăng trắng” không biết là sương hay là nắng, là sáng hay là chiều. Mị cũng nghĩ mình sẽ lặng lẽ “ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”… Nhưng bất chấp số phận cay đắng, nghiệt ngã, trái tim Mị vẫn âm thầm gìn giữ niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc. Khi đau khổ xoá mờ kí ức, Mị vẫn không quên giai điệu ngọt ngào, tha thiết của tiếng sáo gọi bạn tình. Nó quấn quýt, vương vấn, thức tỉnh, nâng đỡ, chắp cánh cho tâm hồn Mị: “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi […] Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng […] Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường […] Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo…”. Tiếng vẫy gọi của tình yêu đã làm sống dậy những cảm xúc và kỉ niệm Mị từng chôn vùi, quên lãng Người đàn bà câm lặng suốt bao năm tháng giờ đây đang ngồi “nhẩm thầm bài hát” của người thổi sáo. Từng câu hát nồng nàn, tình tứ gọi về trong tâm tưởng những tháng ngày hạnh phúc, tươi sáng nhất: “Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”.

Trong khoảnh khắc, Mị vượt qua mọi khoảng cách của thời gian, không gian, băng qua ranh giới của quá khứ và hiện tại để trở về sống trọn với tuổi thanh xuân tươi đẹp. Tâm hồn Mị đã hồi sinh. Cô lại ý thức được về bản thân mình, cảm nhận được nguồn sức sống đang trào dâng: “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ”. Người phụ nữ đang chết mòn trong tuyệt vọng lại muốn được sống cuộc sống có niềm vui, có tự do: “Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi”. Trái tim cô không còn “quen khổ” nữa mà thấm thía hơn bao giờ hết nỗi bất hạnh của đời mình: “Huống chi A sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra”. Cảm biết được nỗi đau, biết phẫn uất – Mị trở lại là người con gái mạnh mẽ, giàu tinh thần phản kháng của ngày xưa! Kể từ giây phút “đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn”, Mị đã biến thành một con người khác. Cô không chỉ khơi ngọn đèn làm sáng căn buồng mờ tối mà còn thắp lên ngọn lửa của tình yêu cuộc sống trong chính lòng mình! Đi chơi Tết đối với Mị chính là một hành động “nổi loạn” để chấm dứt kiếp tù nhân, giành lại quyền được sống như một con người. Thậm chí, cá lúc bị A Sử trói đứng vào cột nhà, lòng MỊ vẫn nồng nàn, tha thiết nhớ, vẫn đắm trong tiếng gọi yêu thương; tiếng sáo “đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”… Khát vọng tình yêu và hạnh phúc đã là nguồn sức mạnh kì diệu nuôi dưỡng tâm hồn MỊ.

Cuộc hồi sinh lần thứ hai đã không được báo trước bằng bất kì “tín hiệu” nào (như không khí tưng bừng của mùa xuân, men rượu say nồng bên bếp lửa hay tiếng sáo gọi bạn tình,…). Nó đến bất chợt, bất ngờ – với người đọc và với cả chính bản thân Mị. Bởi vì, sau đêm bị trói đứng, Mị rơi vào cái chết tinh thần nặng nề, đau đớn. Người phụ nữ cô đơn, bất hạnh ấy đã hoàn toàn tách biệt với xung quanh “chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa”. Cô không còn tìm được chút hơi ấm nào từ cuộc sống. Mị bám víu lấy bếp lửa không chỉ vì cái lạnh của những đêm đông trên núi cao mà còn vì sự buốt giá của lòng mình: “nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị đã dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần”. MỊ thờ ơ, vô cảm với chính mình và với mọi sự xung quanh. Có đêm, A Sử bắt gặp, đánh MỊ ngã ngay xuống cạnh bếp nhưng đêm sau cô vẫn thản nhiên ra sưởi lửa như đêm trước. Tôi có cảm giác nếu A Sử đánh chết Mị bên bếp lửa, thì cô cũng sẽ lặng thinh và thờ ơ như thế. Thân còn chẳng thiết) nên khi tận mắt chứng kiến cảnh tượng A Phủ chết dần trong đói rét, đau đớn, Mị vẫn dửng dưng: “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”!

Miêu tả cái chết tinh thần ấy, Tô Hoài đã tự đặt mình trước một thử thách lớn. Làm sao nhà văn lại khiến người đọc tin rằng, từ trạng thái vô cảm kia, Mị có thể thức tỉnh, cắt dây trói của A Phủ và tự cứu chính mình? Làm sao ông có thể tìm được “chìa khoá” để mở lại cánh cửa của một cõi lòng đã đóng chặt và cơ hồ đã chết? Vì thế, không ít lần tôi ngẫm đi ngẫm lại cái câu văn tả “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Không phải là nước mắt khiếp sợ của kẻ hèn nhát hay giọt lệ van xin, cầu khẩn lòng thương hại. Dòng nước mắt kia chất chứa nỗi đau đớn, uất hận thầm lặng mà dữ dội của một con người tràn đầy sức mạnh, có thừa lòng can đảm mà đành bất lực trước cái chết oan ức, phi lí. Nó đập mạnh vào trái tim Mị – trái tim dường như chỉ còn nỗi đau. Cô bừng tỉnh trong mối đồng cảm sâu xa với người cùng chung cảnh ngộ đau thương, uất hận: “Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước. A Sử trói Mị, MỊ cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được”. Lúc trước, miêu tả cảnh Mị bị trói đứng, Tô Hoài nhắc nhiều đến những đau đớn về thể xác: “tay chân đau không cựa được […] khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức […] cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau dứt từng mảnh thịt […] Sợi dây gai dưới bắp chân vừa lỏng ra, Mị ngã sụp xuống […] Mị quên cả đau, đứng lên. Nhưng không nhích chân lên được”. Nỗi đau thể chất này, thời gian có thể làm nhòa đi nhưng nỗi đau tinh thần kia thì vẫn hằn sâu trong tâm trí, khi con người bị tước đoạt đến cả cái quyển đưa tay lên lau những giọt nước mắt của chính mình! Từ chỗ biết thương mình, trong lòng Mị dâng lên nỗi xót xa, thương cảm cho bao kiếp người bị đày đọa: “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bất mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này”. Cùng với tình thương, trong lòng MỊ sống dậy cả lòng căm thù, sự phẫn nộ: “Chúng nó thật độc ác”. Với A Phủ, Mị chia sẻ nỗi đau đớn bằng cả trái tim vì chính cô đã từng biết thế nào là “chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” trên cây cột trói người. Đột nhiên, nhưng cũng là tự nhiên, tất yếu với một con người giàu “năng lực” yêu thương, Mị xót xa cho A Phủ hơn chính bản thân mình: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế”.Trong khoảnh khắc, người con gái có tâm hồn trong sáng, nhân hậu của ngày xưa đã lại trở về! Bấy nhiêu cảm xúc trỗi dậy khiến MỊ không cảm thấy sợ hãi cả khi tưởng tượng mình phải trói thay A Phủ. Bằng sức mạnh của tình yêu thương, sự đồng cảm, lòng vị tha, Mị đã vượt lên nỗi sợ cường quyền, cắt dây trói cứu A Phủ, để rồi lòng ham sống mãnh liệt lại giúp cô vượt qua nỗi ám ảnh thần quyền, tự cứu chính mình… Vẫn là cái quy luật muôn thuở của tình người bất diệt “Thương người như thể thương thân”, nhưng qua ngòi bút Tô Hoài, nó đã mang đậm sắc màu riêng của tính cách, tâm hồn con người Tây Bắc – chân chất, mộc mạc mà nồng nàn, sâu sắc; lặng lẽ mà quyết liệt trong khát vọng sống, khát vọng tự do.

Những ý thơ trong Vợ chồng A Phủ cũng gắn liền với một Tô Hoài đặc biệt chú trọng đến chuyện “tinh thông về chũ”. Ông từng tâm niệm và ao ước: “Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của mình mà có”. Tôi đã thấy những “hạt ngọc” như thế lấp lánh trong Vợ chồng A Phủ. Công phu dùng chữ của tác giả hiện rõ qua lời kể, lối miêu tả, nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật,… Từ đối thoại, độc thoại đến những đoạn ngôn ngữ nửa trực tiếp,… chưa bao giờ thấy gợn lên sự thiếu hài hòa giữa lai lịch, vốn sống, tâm trạng và tính cách,… với lời ăn tiếng nói của nhân vật. Có những câu nói chỉ bớt đi một từ thôi (chúng tôi in đậm), nó đã không còn là cách nói riêng của người miền cao – mộc mạc, đầy hình ảnh và cảm xúc chân thật, tự nhiên: lời khen ngợi A Phủ của các cô gái trong làng: “Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà”; lời của người cha già hiểu con, thương con mà đành bất lực: “Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? […] Không được, con ơi!” hay tiếng vọng đau đớn vang lên từ tâm trí Mị, nhắc nhở về nỗi tủi nhục, cay đắng đến tận cùng của kiếp nô lệ: “Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được”… Màu sắc địa phương đậm đà ấy đã góp phần không nhỏ làm nên vẻ sinh động, độc đáo của các nhân vật.

Tác giả Vợ chồng A Phủ cũng sáng tạo nhiều kiểu câu văn giàu nhịp điệu “như biết co duỗi nhịp nhàng” (Nguyễn Tuân). Có kiểu câu với cấu trúc tầng lớp, trùng điệp các vế, thường được dùng để miêu tả các sự kiện kéo dài, lặp lại, triền miên, nặng nề: tả kiếp đàn bà như con trâu con ngựa “chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi” trong nhà thống lí (“Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi”); tả cảnh hành hạ người dã man, quái gở (“Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”),… Có kiểu câu ngắn, dồn dập, diễn tả những biến động bất ngờ: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. […] Hơi rượu toả. Tiếng sáo. Tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê, lúc tỉnh”. Những cấu trúc mới lạ, phong phú đan xen, phối hợp với nhau một cách linh hoạt mang đến cho lời vãn tính đa thanh, phức điệu.

Ngôn ngữ văn xuôi của Tô Hoài giàu chất thơ, chất hoạ. Không thiếu những đoạn văn, đọc lên, ngỡ như mình đang đứng trước một bức tranh hay đang xem một trường đoạn phim với góc quay thật rộng: “Hai người đi liền hơn một tháng. Họ đi thuyền trên những triền núi cao ngất, lốm đốm nhà, thấp thoáng ruộng, đất đỏ, suối trắng tình, trông thấy ở trước mặt mà đi mấy ngày chưa tới. […] A Phủ làm nhà thèo đảnh ra một ngọn đồi gianh. Những ngày quan trời trông thấy dòng sông và cánh đồng Bản Pe có ruộng xòe như cánh quạt”. Gần rồi xa, cao và thấp, diện và điểm, đậm xen nhạt, khi thì sắc nét như ở ngay trước mặt, lúc lại thấp thoáng mơ hồ như ở ngoài tầm mắt; vừa trải rộng với những nét vẽ sông, suối mềm mại, đã lại sừng sững thu về trong dáng núi gân guốc, hùng vĩ… Tả con đường vượt suối, băng rừng mà thấy được hành trình và khát vọng đi tìm cuộc sống tự do. Tái hiện khung cảnh thiên nhiên mà gợi được vẻ đẹp mạnh mẽ, phóng khoáng, lãng mạn của hồn người…

Những ý thơ trong Vợ chồng A Phủ được tạo nên bằng ngòi bút của một người “thợ chữ” tài hoa và kiên tâm trên con đường sáng tạo. Phải nói đến cả tình cảm gắn bó thắm thiết, sâu nặng của nhà văn: “thiên nhiên và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không bao giờ quên” (Tô Hoài). Không chỉ nhà văn, mà cả người đọc cũng muốn nói lời tri ân núi rừng, sông suối và con người Tây Bắc – nguồn “nguyên liệu” thấm đẫm chất thơ! Tô Hoài đã trả được món nợ ân tình đó khi truyền cho người đọc những rung cảm sâu xa với cảnh, với người. Ông cũng đã thực hiện được điều mà mọi nhà văn đều mong ước: “trong văn xuôi, cần phải đượm hồn thơ, có như thế vãn xuôi mới trong sáng cất cao”

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 5
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 5

6


Bình An

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 6

Tô Hoài là một trong những cây bút nổi bật của nền văn học Việt Nam hiện đại, với số lượng tác phẩm đồ sộ viết về nhiều đề tài, thể loại, hướng đến nhiều đối tượng độc giả khác nhau. Đặc biệt trong quãng thời gian 9 năm tham gia kháng chiến chống Pháp tạo vùng núi Tây Bắc nước ta đã để lại cho Tô Hoài nhiều những xúc cảm cũng như những dấu ấn sâu sắc với con người và thiên nhiên nơi đây. Trong quá trình kháng chiến, cùng ăn ở, sinh hoạt với đồng bào dân tộc thiểu số, tác giả đã có cái nhìn thấu hiểu và thông cảm sâu sắc với những con người phải chịu sự áp bức từ cả cường quyền lẫn thần quyền. Chính vì thế mà các tác phẩm hiện thực đã ra đời tiêu biểu nhất là Vợ chồng A Phủ không chỉ có nội dung, ý nghĩa sâu sắc, phản ánh chân thực cuộc sống của đồng bào miền núi những năm kháng chiến, mà nó còn là tất cả những gì tinh túy về mảnh đất Tây Bắc mà Tô Hoài đã khám phá, góp nhặt được. Sự hiểu biết, gắn bó và trân trọng của tác giả được thể hiện một cách rất tinh tế nhẹ nhàng thông qua các ý thơ trong tác phẩm, khiến độc giả càng có ấn tượng sâu sắc về cuộc đời, số phận của từng nhân vật, cũng như những nét độc đáo từ mảnh đất xa xôi ngút ngàn mây phủ.

Khi nói về Truyện Tây Bắc mà tiêu biểu nhất là Vợ chồng A Phủ Tô Hoài đã nói rằng “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt vặt thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề và khung cảnh đi”. Rõ ràng rằng cuộc đời của nhân vật Mị hay A Phủ đều là cuộc đời bao trùm bởi những bi kịch và đau khổ đến mức tuyệt vọng, thế nhưng dưới ngòi bút của Tô Hoài, dưới cái nhìn thấm thía và sâu sắc vào nội tâm của nhân vật, ông không quá nhấn mạnh những nỗi đau ấy, mà thay vào đó To Hoài để người đọc tự cảm nhận thông qua những suy nghĩ, cử chỉ của nhân vật. Và cả cái cách khi ông viết về khung cảnh sinh hoạt vùng Tây Bắc, viết về những thói quen, những công việc, những đặc nhưng mà chỉ nơi này mới có được, khiến độc giả dễ dàng cảm nhận được tâm hồn cũng như số phận và nỗi đau của từng nhân vật. Tô Hoài muốn diễn tả cái cuộc đời bế tắc và tuyệt vọng của Mị thông qua một hình ảnh rất đặc sắc, ấy là căn buồng Mị ở chỉ có một ô cửa sổ bé bằng bàn tay mà trông ra “lúc nào cũng thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng”. Đó chính là một ý thơ rất đẹp, người đọc dễ dàng liên tưởng đến một vùng đất bốn bề mây phủ sương giăng, bay bổng và thơ mộng, ban ngày thì mây hòa với nắng, ban đêm thì sương quyện với trăng. Ấy thế nhưng một vùng đất đẹp, đầy chất thơ như thế lại có những cuộc đời đớn đau giống Mị, cô thấy trăng trắng ấy nhưng lại không phân biệt được đêm với ngày, không nhận thấy được sự huyền diệu tươi đẹp của thiên nhiên, thể hiện một cuộc đời cầm tù và bế tắc đến khôn cùng. Có thể nói rằng chất thơ trong văn xuôi của Tô Hoài lại càng tô đậm thêm số phận của nhân vật.

Một dẫn chứng khác về chất thơ, chất nhạc trong văn của Tô Hoài phải kể đến cảnh mùa xuân ở Hồng Ngài có biết bao nhiêu náo nhiệt, vui nhộn và đặc sắc “Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”, “trẻ con đốt những lều canh nương”, “gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy hoa đã đem phơi trên những mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ, gió và rét rất dữ dội”. Đọc những câu văn ấy người ta thấy một cái không khí thật dễ chịu, dường như còn cảm nhận được cả cái gió se se lạnh của mùa xuân, cái nắng ấm áp những ngày giáp Tết, đến cả cái không khí rộn ràng, vui tươi trong những ngày xuân vừa tới. Như vậy chỉ bằng vài câu văn tả cảnh, nhưng đã gợi ra một không gian Tây Bắc rộng lớn, sống động, và có lẽ gợi ra nhiều nhất ấy là cảm giác tự do, phóng khoáng. Ấy thế nhưng khi quay lại với cuộc đời của Mị, Mị lại càng bất hạnh hơn khi bản thân ở tại một vùng đất tươi đẹp như thế, nhưng đời Mị lại toàn là những bi kịch đen tối và đớn đau nhất ấy là sự mất tự do, bị cầm tù bằng một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Song song với việc miêu tả cuộc đời Mị, với những diễn biến tâm trạng, ý thơ của Tô Hoài cũng len lỏi khắp trong từng câu văn. Khi kể về cuộc đời của Mị tại nhà thống lý Pá Tra, người ta dễ dàng nhận thấy những nếp sống, phong cách sinh hoạt của người dân tộc H’Mông ở miền núi phía Bắc, như đi làm nương ngô, nương lúa, quay sợi gai, dệt vải, cõng nước, thái cỏ ngựa, chẻ củi, giặt đay, xe đay,…

Rồi những cảnh bếp lửa bập bùng, không tắt hòn than vào những đêm đông giá rét,… Hoặc trong cách ăn mặc phục sức thì phụ nữ mặc váy hoa, vấn tóc chít khăn, đàn ông đeo vòng bạc, đội khăn trắng. Và đáng chú ý nhất khi nói về chất thơ trong Vợ chồng A Phủ có lẽ phải kể đến cái cách mà Tô Hoài đã miêu tả về mùa xuân ở Hồng Ngài, mùa xuân ở miền cao. Ở đây người ta đoán mùa xuân đến dựa vào vụ mùa canh tác, ăn tết không kể ngày tháng, cứ kết thúc một mùa thu hoạch ngô lúa, là họ lại ăn Tết vừa mừng xuân đến, vừa mừng việc mùa màng được no đủ. Và trong mùa xuân ấy Tô Hoài cũng rất tinh tế khi đưa vào những cảnh trai gái mùa xuân tìm nhau để tỏ tình, họ khoác lên mình những bộ áo đẹp nhất, đi chơi theo từng đoàn, lập hội ném pao, thổi sáo, đàn môi, uống rượu,… đầy náo nức và mê say, mang đậm phong vị núi rừng Tây Bắc, tự do và bay bổng. Trong đó ngày Tết được Tô Hoài đặc tả bằng những hình ảnh giàu tính nhạc và màu sắc, mang đến một không khí rộn ràng, náo nức “Trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên những mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ […] Đám trẻ đợi tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà”. Hay cái cách ăn vận ngày Tết của người phụ nữ miền núi, mỗi một dân tộc lại có những nét đặc sắc riêng biệt “Các chị Mèo đỏ, váy thêu, áo khoác, khăn hoa chùm rực rỡ. Các chị Mèo trắng chít khăn xếp phẳng lì, tóc mai cạo xanh nhẵn”. Có thể nói rằng thông qua đôi mắt nhạy bén, giàu tình cảm của Tô Hoài, mùa xuân vùng Tây Bắc đã hiện lên một cách thật chân thực và nhiều ấn tượng.

Một điểm nhấn đặc biệt, có thể xem là âm thanh sự sống đã thức tỉnh khao khát tự do, khao khát hạnh phúc ở nhân vật Mị ấy là tiếng sáo, tiếng sáo gọi bạn vào những đêm tình mùa xuân “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”, “Tiếng sáo réo rắt suốt đêm ngoài đầu núi tranh”. Tiếng sáo ấy gợi Mị nhớ đến những câu hát:

“Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Tao không có con trai con gái

Tao đi tìm người yêu…

Anh ném pao em không bắt

Em không yêu quả pao rơi rồi”

Đó là những câu hát thể hiện lối sống phóng khoáng, tự do của đồng bào dân tộc miền núi, mà khi đến với Mị nó lại dường như đánh động vào tâm hồn, Mị vẫn còn trẻ, Mị khao khát được tự do, hạnh phúc, khao khát tình yêu, thứ mà chồng Mị không cho Mị được. Nỗi đau đớn dần trỗi dậy trong tâm hồn cô gái, cũng là lúc Mị thức tỉnh sau nhiều năm câm lặng, chịu đựng. Mị uống rượu, uống ừng ực từng bát, nó không chỉ là thể hiện những nỗi uất ức, đau đớn chất chứa trong lòng Mị bấy lâu nay, mà còn là biểu hiện của sức sống tiềm tàng mãnh liệt, của ngọn lửa đang bùng cháy trong lòng, nhiều chất thơ và ý vị. Mị lại cảm thấy yêu đời, lại nhớ về những ký ức thật tươi đẹp khi xưa: “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Rồi sau tất cả, dưới tác động của tiếng sáo gọi bạn, dưới men say của rượu “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…”. Có thể nói rằng sự thức tỉnh của Mị gắn liền với nét văn hóa đặc sắc của người miền núi phía Bắc, đem đến cho độc giả những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời một người phụ nữ H’Mông ở Hồng Ngài khi xưa. Tính nhân văn trong tác phẩm đã được Tô Hoài khéo léo đưa vào trong tác phẩm bằng những ý thơ thật tinh tế, những cảm nhận và lòng thông cảm sâu sắc, mà không phải bất cứ một cây bút nào cũng có được

Bên cạnh những nét phong tục tập quán tốt đẹp, thì Tô Hoài cũng chỉ ra những ngang trái và bất công đang diễn ra ở vùng miền núi phía Bắc, khi mà người dân tộc nơi đây luôn phải chịu sự áp bức của cả cường quyền và thần quyền. Đầu tiên phải kể đến hủ tục bắt vợ, cuộc đời Mị đã phải bước vào cảnh đớn đau khi bị bắt về nhà thống lý Pá Tra làm con dâu gán nợ, sống một cuộc đời nhiều đớn đau, khổ cực, đến độ chai lỳMà căn nguyên của bi kịch ấy cũng là đến từ sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn, và sự ngang ngược tàn ác của giai cấp thống trị. Xoay quanh nhân vật A Phủ, cũng là một nhân vật nhiều bi kịch, chất thơ ở nhân vật này hiện lên với vẻ đẹp của một người đàn ông khỏe mạnh, khôi ngô, không sợ cường quyền, sẵn sàng lao vào đánh kẻ đã phá tan cuộc chơi của mình, mặc kệ hắn là con nhà thống lý. Tuy nhiên sự nghèo khó, thân cô thế cô đã đẩy anh vào bi kịch, với cảnh xử kiện sặc mùi khói thuốc phiện, ăn uống của bè lũ cầm quyền, còn bản thân A Phủ thì bị đánh bầm dập, bắt trói, bắt quỳ, cuối cùng phải chấp nhận món nợ mà có lẽ cả đời anh, đời con cháu anh cũng chưa trả hết, trở thành nô lệ cho nhà thống lý Pá Tra. Có bất công đến cùng cực, mới có sự vùng dậy mạnh mẽ, giống như Tô Hoài nói “Ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng”, cả Mị và A Phủ đều là những con người phải chịu áp bức đến tột cùng, thế nhưng chưa khi nào cái tâm hồn khao khát được sống, được tự do, được hạnh phúc hoàn toàn bị chôn vùi, dập tắt, mà nó chỉ chờ đợi cơ hội là bùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cảnh Mị và A Phủ dắt tay nhau chạy xuống triền đồi, mang đến cho người đọc những xúc cảm sâu sắc, trước hết là đến từ sự tự giải phóng, vùng dậy mạnh mẽ của hai nhân vật chính, sau đó là những hy vọng về một tương lai tươi sáng cho tất cả những con người nơi đây, có lẽ vào một ngày không xa tất cả những con người bị áp bức cũng sẽ đều tìm được cho mình một lối thoát riêng.

Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là một trong những tác phẩm hiện thực tiêu biểu nhất khi viết về đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc những năm tháng kháng chiến chống Pháp. Cái hay của tác phẩm không chỉ đến từ nội dung mang giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc mà còn xuất phát từ những ý thơ trong văn xuôi, đem đến cho người đọc những cái nhìn, những cảm nhận thật sâu sắc về thiên nhiên và con người miền núi phía Bắc. Có thế mới thấy được tấm lòng chân thành, gắn bó sâu nặng với mảnh đất Tây Bắc cũng như tài năng của tác giả trong lĩnh vực văn học hiện thực giai đoạn sau cách mạng.

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 6
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 6

7


Bình An

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 7

Tô Hoài là một trong những văn nghệ sĩ đầu tiên rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Suốt chín năm, ông đi thực tế ở nhiều nơi, chung sống với đồng bào các dân tộc thiểu số như người Thái, người Mường ở chân núi, lưng chừng núi; người Dao, người Mông trên những đỉnh núi đá cao chót vót quanh năm mây phủ… Tây Bắc gắn bó máu thịt với Tô Hoài và đã trở thành quê hương thứ hai của ông bởi những kỉ niệm sâu sắc không thể nào quên, vốn sống phong phú về thiên nhiên và con người Tây Bắc là mạch nguồn cảm hứng vô tận giúp tác giả sáng tác được nhiều tác phẩm về đề tài miền núi mà Truyện Tây Bắc (1953) là tiêu biểu nhất.

Trong tập truyện này, Tô Hoài phản ánh chân thực và sinh động đời sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và bọn lang đạo, chúa đất tay sai; đồng thời phản ánh con đường đến với cách mạng, với kháng chiến của họ. Nhà văn cho biết là khi sáng tác Truyện Tây Bắc, ông đã dựa vào những ý thơ trong văn xuôi. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ thể hiện rất rõ điều đó.

Thế nào là ý thơ trong văn xuôi? Có thể hiểu đó là những rung cảm của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, con người… được đề cập tới trong tác phẩm. Từ đó, tác giả truyền những rung động, những cảm xúc thẩm mĩ đến người đọc. Ý thơ trong văn xuôi thể hiện khá rõ qua bút pháp miêu tả thiên nhiên vừa giàu tính hiện thực vừa đậm đà chất trữ tình của Tô Hoài. Tác giả miêu tả cảnh vật Tây Bắc bằng cảm nghĩ và cách diễn đạt của người dân miền núi. Khung cảnh mùa xuân, ngày Tết trên vùng núi cao có sức hấp dẫn lạ kì, vừa là phong tục vừa là bức tranh thiên nhiên thơ mộng với màu sắc rực rỡ và đường nét uyển chuyển giàu chất tạo hình.

Vốn có khả năng quan sát sắc sảo và sự cảm nhận tinh nhạy nên cách tạo dựng bối cảnh, tình huống, miêu tả thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài thường sống động và đầy chất thơ. Tiêu biểu là cảnh ngày Tết và mùa xuân trên núi cao, là lời hát yêu đương và tiếng sáo du dương gọi bạn tình trong những đêm xuân, là cảnh uống rượu của người Mông… Đoạn văn tả khung cảnh Hồng Ngài trong những ngày Tết có những chi tiết, hình ảnh mang đậm “hồn” của cảnh vật và con người Tây Bắc: Đến Tết năm ấy, Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi… Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp trên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa. Ở Hồng Ngài người ta thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên các mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ… Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi… Tiếng sáo du dương, trầm bổng đêm tình mùa xuân gợi nhớ bài hát quen thuộc của trai gái người Mông thường hát trong những ngày xuân với lời lẽ mộc mạc, hồn nhiên mà không kém phần say đắm:

Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu.…

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi…

Ngôn ngữ giản dị mộc mạc vậy mà hàm chứa cái lẽ sống phóng khoáng tự do của con người. Lẽ sống đơn giản ấy qua tiếng sáo đã vọng vào tâm hồn Mị, cô gái có một thời thổi sáo rất hay. Những bức tranh sinh hoạt, những phong tục có từ ngày xưa, đặc biệt là cảnh ăn Tết của người Mông được tác giả miêu tả bầng những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu thể hiện đặc điểm riêng rất phong phú, đa dạng của con người và thiên nhiên Tây Bắc:

Tiếng chó sủa xa xa.

Những đêm tình mùa xuân đã tới

Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết. Trai gái, trẻ con ra sân chơi ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy. Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Xung quanh, chiêng đánh ầm ầm người ốp đồng vẫn còn nhảy lên xuống, run bần bật Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa.

Tục “cướp vợ” của người Mông được tác giả miêu tả tỉ mỉ gây ấn tượng thú vị, ngạc nhiên đối với người đọc: Những nhà có con gái thì bố mẹ không thể ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị. Một đêm khuya, Mị nghe có tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu… Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dắt Mị bước ra… Tiếc thay, bàn tay ấy không phải là của người yêu Mị mà là của một kẻ trong đám “cướp vợ” của A Sử – gã con trai ngang ngược và độc ác nổi tiếng trong vùng. Sáng hôm sau, A Sử đến nhà báo cho bố Mị biết: Tôi đã cướp được con gái bố làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi, bây giờ tôi đến trình cho bố biết Tiền bạc để cưới thì bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi. Sau lễ cúng trình ma, Mị trở thành con dâu gạt nợ của nhà thống lí, món nợ nhỏ nhoi mà cha mạ cô nợ hắn từ lúc mới lấy nhau.

Ý thơ trong văn xuôi còn thể hiện qua bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc và tinh tế của Tô Hoài, khắc họa nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và sức sống, nhất là khát vọng tự do, khát vọng tình yêu và sự đồng cảm của hai nhân vật chính. Trước hết là nhân vật A Phủ – đầy tớ trừ nợ của nhà thống lí Pá Tra. Tác giả giới thiệu A Phủ bằng sự xuất hiện đột ngột của anh để gây chú ý cho người đọc rồi mới kể về lai lịch. Trong cuộc đánh nhau của trai làng bên với bọn A Sử, A Phủ dám đối đầu với A Sử – tên con trai nhà giàu trâng tráo và hung hãn. A Phủ dũng mãnh giành được thế áp đảo..

Đoạn văn miêu tả cảnh đánh nhau có một loạt từ ngữ miêu tả hành động với nhịp điệu nhanh, mạnh, dồn dập: Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt, Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xẻ vai áo, đánh tới tấp. A Phủ mang dáng dấp và hình ảnh của một chàng trai hào hiệp trong dân gian: to lớn, khỏe mạnh, can đảm và nghĩa khí. Chàng trai ấy không sợ đối mặt với bọn con quan ; ngược lại, anh thẳng tay trừng trị chúng vì chúng dám quấy phá cuộc vui xuân của bạn bè mình. A Phủ nắm lấy cái vòng cổ bạc có tua chỉ xanh đỏ của A sử – dấu hiệu con cái nhà quan – để kéo dập đầu nó xuống, xé áo nó ra mà đánh tới tấp cho hả giận.

Đoạn văn tả cuộc xử kiện là bức tranh phong tục sinh động của xã hội phong kiến ỏ miền núi Tây Bắc: Bọn chức việc khắp vùng Hồng Ngài đến nhà thống lí Pá Tra dự đám xử kiện. Các lí dịch, quan làng, thống quán, xéo phải đội mũ, quấn khăn, xách gậy, cưỡi ngựa kéo đến xử kiện và ăn cỗ. Trong nhà thống lí đã bày năm cái bàn đèn. Khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp. Cả những người chức việc bên làng A Phủ cũng tới. Nhưng chỉ bọn con trai làng ấy phải ngồi khoanh tay cạnh A Phủ vì họ bị gọi sang hầu kiện, còn bọn chức việc thì nằm dài cả bên khay đèn. Suốt từ trưa cho tới hết đêm, mấy chục người hút. Trên nhất là thống lí Pá Tra, thống lí Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến người khác hút, lại người khác hút, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về dự kiện. Chỉ có đàn bà ngồi trong buồng hoặc đi lại bên ngoài dòm ngó đám xử kiện và A Phủ quỳ chịu tội ở xó nhà, là không được dự tiệc hút ấy. Lúc một loạt người vừa hút xong, Pá Tra ngồi dậy, vuốt ngược cái đầu trọc dài, kéo đuôi tóc ra đằng trước, cất giọng lè nhè gọi:

– Thằng A Phủ ra đây.

A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất, chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ. A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá.

Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt giập chảy máu. Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ cửa sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút… Qua cách miêu tả tì mỉ, sinh động, người đọc nhận thấy sự hiểu biết cặn kẽ, tường tận của Tô Hoài về thực tế cuộc sống và phong tục tập quán của xứ sở có nhiều cây thuốc phiện. Tô Hoài đã lưu vào văn chương hình ảnh độc ác của bọn lang đạo, chúa đất vùng cao Tây Bắc cùng sự bất công của hủ tục và nỗi oan khiến chồng chất của người nghèo. Tô Hoài tả cảnh xử kiện ấy với một vẻ ghê rợn rất khó quên.

Trong đọan văn đặc sắc đầy ắp tính hiện thực nói trên thì chi tiết ám ảnh người đọc nhất là chi tiết cuối cùng: Đến lúc không phải quỳ, phải đánh nữa, A Phủ được đứng lên, chân đau bước đi tập tễnh nhưng phải cầm dao làm thịt lợn hầu hạ chính những kẻ đã đánh mình, những kẻ biến mình từ nay thành nô lệ trong nhà thống lí. Sự bất công, bất nhân của đám lang đạo chúa đất dường như đạt tới điểm đình. Khi miêu tả A Phủ, tác giả cỏ dụng ý thể hiện tính cách của những con người vùng cao Tây Bắc. A Phủ là đứa con của núi rừng tự do. Cuộc sống phóng khoáng gần gũi thiên nhiên và tính tình chất phác, cương trực của A Phủ cũng là nét tính cách đặc trưng của trai làng người Mông.

A Phủ mồ côi cha mẹ, nghèo khổ không có ruộng nương, không có cả cái vòng bạc đeo cổ để đi chơi Tết. A Phủ từng bị bắt bán xuống vùng người Thái dưới chân núi. Cuộc sống cùng cực đã hun đúc cho A Phủ một sức sống mạnh mẽ, lòng ham chuộng tự do và tính cách gan góc cùng với tài năng lao động đáng quý. A Phủ thành thạo và ham thích những công việc lao động nặng nhọc và khó khăn, nguy hiểm. Anh biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo. A Phủ khỏe, chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng nhiều người mê, nhiều người nói: “Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu”.

Một chàng trai khỏe mạnh vốn không nợ nần gì nhà Pá Tra, lại lao động giỏi, sống tự do như chim trời giữa núi rừng, vậy mà cuối cùng cũng không thoát khỏi ách áp bức của bọn chúa đất, phải rơi vào thân phận nô lệ. Điều đó làm tăng thêm sức tố cáo sự áp bức bất công của xã hội thực dân phong kiến. Một hôm, khi đi chăn bò, A Phủ sơ ý để hổ bắt mất một con. A Phủ xin Pá Tra cho mượn súng đi bắn hổ. Pá Tra giận dữ ra lệnh trói đứng A Phủ vào cọc suốt mấy ngày đêm. Đau đớn, đói khát và tủi nhục khiến cho người con trai dũng mãnh ấy tuyệt vọng: một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Trong hoàn cảnh cùng cực tưởng như không còn gì để mà hy vọng, A Phủ đã được một cô gái cùng cành ngộ cứu giúp. Sau khi được Mị cắt dây trói, A Phù ngã khuỵu xuống, nhưng rồi khát vọng sống thôi thúc mãnh liệt khiến anh quật sức vùng lên, chạy.

Mị vốn là một cô gái xinh đẹp, hồn nhiên và đầy sức sống. Khi bị bắt vể làm con dâu trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra, Mị đã phản kháng quyết liệt bằng cách định ăn lá ngón tự tử.. Nhưng rồi kiếp sống nô lệ triền miên dường như đã làm tê liệt sức phản kháng và cô đành cúi đầu cam chịu số phận. Đoạn văn mở đầu tả cảnh Mị ngồi làm việc trước cửa nhà thống lí có nhịp điệu chậm rãi, giống như những câu thơ trữ tình có âm hưởng u buồn, trầm lắng, rất phù hợp với việc diễn tả chân dung và thể hiện tâm trạng chán chường, đau khổ cùng thân phận bị ràng buộc của cô gái bất hạnh. Mị đã phải sống nhiều năm trong không khí ngột ngạt, tù đọng và bị lãng quên: Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi…

Tuy vậy, trong con người Mị vẫn tiềm tàng một sức sống cùng với khát vọng tình yêu và tự do. Sức sống của nhân vật này ẩn giấu ở nội tâm, chỉ bùng lên trong những thời điểm nhất định và biểu hiện qua những hành động quyết liệt, táo bạo. Trong suốt phần đầu của truyện, hầu như Mị không nói lời nào, ngoại trừ câu nói với cha được dẫn lại qua lời người kể chuyện. Điều đó cho thấy Mị là người có đời sống nội tâm âm thầm mà mạnh mẽ. Sự trỗi dậy của sức sống thanh xuân cùng khát vọng tự do cháy bỏng ở nhân vật Mị thể hiện qua nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế và sâu sắc của tác giả trong đoạn tả đêm xuân ở Hồng Ngài. Tâm trạng của Mị tràn đầy cảm xúc trữ tình. Mị bâng khuâng, da diết nhớ và nuối tiếc quá khứ tươi đẹp chưa xa: Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước.

Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mà ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Rượu đã tan lúc nào. Người về người ở chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết Mị cũng chẳng buồn đi Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi…

Tác động của ngoại cảnh là mùa xuân đến cùng tiếng sáo gọi bạn tình, bữa rượu bên bếp lửa đã thức tỉnh Mị. Quá trình thức tỉnh của Mị bắt đầu từ sự bừng dậy trong tiềm thức những hồi ức, kỉ niệm của quá khứ. Rồi Mị chìm đắm trong tiếng sáo. Ý thức về thời gian cũng đã trở lại cùng với khát vọng sống và ý thức về thân phận mình. Từ ý thức tới hành động của Mị đều thể hiện điều đó. Mị thắp đèn sáng lên, quấn lại tóc, rút chiếc váy hoa, chuẩn bị đi chơi. Bị A Sử đánh và trói vào cột không cho đi chơi, nhưng Mị cũng không hề phản ứng. Mị vẫn mê mải sống với những khao khát cháy bỏng: Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào…” Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.

Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi… Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sáo. Tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê, lúc tình. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ.

Đây là đoạn văn hay nhất bởi nó thấm đẫm cảm xúc trữ tình. Ý thơ trong văn xuôi được Tô Hoài thể hiện một cách tài tình qua tiếng sáo. Người đọc lắng nghe thật kĩ tiếng sáo vút lên hòa cùng nỗi niềm của cô gái Mông khi mùa xuân về. Tiếng sáo là ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt bằng âm thanh của người Mông. Từ thực tế ấy, Tô Hoài đã công phu sáng tạo và sử dụng rất “dắt” chỉ tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân để miêu tà diễn biến phức tạp của tâm trạng Mị đang bị cầm giữ trong căn buồng tối tăm, ngột ngạt. Tiếng sáo trở đi trở lại nhiều lần như những lời nhắn nhủ, rủ rê, mời gọi đầy ám ảnh. Lúc đầu, tiếng sáo vọng lại từ ngoài đầu núi: Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Sau đó, tiếng sáo vẳng lại từ phía đầu làng: Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Rồi tiếng sáo đến gần thêm: Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Lúc này, tiếng sáo không chỉ gọi bạn mà là gọi bạn yêu, nó cũng không còn lấp ló mà trở nên lửng lơ, nghĩa là có đường nét hơn và gợi cảm hơn. Cuối cùng, tiếng sáo rập rờn ở ngay trong đầu Mị, cô gái đáng thương đang khát khao tự do và tình yêu.

Nhà văn tả tiếng sáo hết lấp ló lại lửng lơ, rập rờn… Tiếng sáo bên ngoài cộng hưởng với tiếng sáo trong kí ức tạo nên một nhạc điệu tình cảm xao xuyến, bồi hồi. Nghe tiếng sáo văng vẳng đầu làng thì Mị nhớ lại ngày trước, Mị thổi sáo giỏi… Có bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Tiếng sáo đêm xuân gợi dậy cả một thời con gái tươi đẹp, hồn nhiên. Có một sự cộng hưởng lạ lùng giữa tiếng sáo của hiện tại với tiếng sáo của những đêm tình mùa xuân ngày trước, giữa tiếng sáo gọi bạn tình và tiếng sáo của Mị năm nào. Sau khi bị A Sử trói đứng trong buồng, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi, sợi dây đay thít chặt của gã A Sử tàn bạo chỉ có thể trói buộc được thân xác Mị chứ không thể trói buộc được tâm hồn Mị, một khi tiếng sáo tình yêu đang rập rờn trong đầu cô. Tiếng sáo càng gần thì sự cảm nhận của Mị về cuộc sống, về tình yêu càng mãnh liệt.

Diễn biến phức tạp trong tâm trạng Mị khi đắm chìm trong dòng hồi tưởng và trong hiện tại đã được tác giả thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau và đều đạt tới chiều sâu tâm lí của nhân vật trữ tình. Đoạn văn tả suy nghĩ và hành động đột ngột của Mị trước cảnh A Phủ bị cha con thống lí Pá Tra trói đứng vào cột bếp đã mấy ngày đêm đang đói khát, đau đớn chờ chết cũng đạt tới trình độ như vậy. Sự thay đổi nhịp điệu, tiết tấu của câu văn, đoạn văn từ chậm sang nhanh nhằm thể hiện sự trỗi dậy bất ngờ của tinh thần phán kháng trong Mị trước cái xấu, cái ác và trước nỗi đau khổ của người cùng cảnh ngộ: Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết. Mỗi đêm, Mị đã dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần. Thường khi đến gà gảy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu dậy ra đem lò bung ngô, nấu cháo lợn. Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại thức sưởi lửa suốt đêm. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cải xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm A sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.

Hành động cắt dây trói cứu A Phủ là điểm đỉnh về vẻ đẹp tâm hồn, nhất là khát vọng tự do và sự đồng cảm sâu sắc của nhân vật Mị. Lúc đầu, thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn thản nhiên bởi cô đã quá quen với những cảnh ngang trái trong nhà Pá Tra. Tâm hồn Mị tưởng chừng đã bị đau khổ làm cho trở nên chai đá, giá lạnh; vì cô cho rằng chắc ít có người khốn khổ như mình. Nhưng rồi một đêm, qua ánh lửa bếp, nhìn sang thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại – biểu hiện sự đau đớn, tuyệt vọng của chàng trai gan góc, khỏe mạnh, thì Mị chợt xúc động. Mị càng thấy thương xót cho thân phận bất hạnh của mình. Những nỗi đau đớn, khổ nhục mà cô phải chịu đựng trong ngần ấy năm trời cuồn cuộn như nước Iũ ùa về trong tâm trí. Mị căm ghét cha con tên thống lí tàn bạo và tội nghiệp cho người thanh niên kia: Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết… Người kia việc gì mà phải chết thế? A Phủ… Mị phảng phất nghĩ như vậy.

Trong lòng Mị trào lên một nỗi thương cảm cho thân phận của A Phủ. Tình thương đó đã thắng sự sợ hãi. Mị nghĩ mình có thể bị trói thay vào đấy và sẽ chết nhưng cũng không thấy sợ. Nỗi thương thân nhanh chóng chuyển thành thương người cùng cảnh ngộ, Tất cả những điều xảy ra trước mắt Mị giống như giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốc nước uất hận trong Mị ; thổi bùng ngọn lửa phản kháng tưởng chừng đã bị dập tắt bởi những cơn gió bạo lực triền miên và đem lại cho Mị một sức mạnh bất ngờ, xua tan nỗi sợ hãi cố hữu ám ảnh cô bấy lâu nay. Mị đã có một hành động bộc phát quyết liệt là cắt đứt dây trói cứu A Phủ và chạy trốn cùng anh ra khỏi nhà thống lí Pá Tra, ra khỏi Hồng Ngài.

Đoạn văn tả suy nghĩ và hành động đột ngột của Mị cắt dây trói cứu A Phủ được tác giả viết bằng một tiết tấu nhanh, dứt khoát, nhằm thể hiện thái độ phản kháng mạnh mẽ của Mị trước cái xấu, cái ác của cha con tên thống lí Pá Tra; sự đồng cảm sâu xa trước sự sống và cái chết của người cùng cảnh ngộ và cũng là của chính mình: Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ quật sức vùng lên, chạy.

Mị đứng lặng trong bóng tối.

Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

– A Phủ cho tôi đi.

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:

– Ở đây thì chết mặt A Phủ chợt hiểu.

Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.

A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi.

Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ có nhiều đoạn giống như những bài thơ với vần điệu nhịp nhàng, giàu nhạc tính cùng những hình ảnh chân thực đan xen với những hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ tượng trưng thường thấy trong nghệ thuật thơ ca. Chất thơ trong tác phẩm đã nâng con người vượt lên trên hoàn cảnh tăm tối, khổ đau; truyền cho người đọc tình cảm yêu mến và những rung cảm sâu xa về cuộc sống và con người Tây Bắc. Văn Tô Hoài mang giọng điệu trữ tình hấp dẫn. Tác giả lôi cuốn người đọc bằng sự từng trải, tinh tế, bằng phong vị đậm đà màu sắc dân tộc vùng cao. Đây cũng là thế mạnh, là sở trường trong phong cách sáng tác, khiến cho các tác phẩm của ông để lại dấu ấn sâu đậm và có sức sống lâu dài trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ. Với bảy mươi năm cầm bút, Tô Hoài đã cống hiến cho đời nhiều tác phẩm xuất sắc. Ông xứng đáng là cây đại thụ của nền văn học việt Nam hiện đại.

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 7
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 7

8


Hà Ngô

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 8

“Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn đặc sắc nhất trong tập “Truyện Tây Bắc”, cũng là một trong những truyện ngắn Việt Nam xuất sắc trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm là bức tranh chân thực về cuộc sống và con người vùng Tây Bắc, tái hiện số phận đau khổ của những người nông dân nghèo miền núi;đồng thời ngợi ca sức sống và khát vọng tự do của người miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và cuộc đổi đời của họ trong cách mạng.

Nói về truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, có nhận định cho rằng: “Có một chất thơ ngọt ngào, dịu dàng lan tỏa trong cảnh sắc, trong dòng hồi ức của Mị và trong nhịp điệu câu văn, trong lời bài hát, trong những từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm”. Đoạn văn miêu tả đêm tình mùa xuân trên núi cao tiêu biểu cho phong cách văn chương dạt dào chất thơ của Tô Hoài trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.

Quả thực “Chất thơ” trong tác phẩm văn xuôi có thể hiểu là vẻ đẹp lãng mạn được tạo ra từ sự hoà quyện giữa vẻ đẹp của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với vẻ đẹp của cách biểu hiện nó để có thể khơi gợi những rung động thẩm mĩ và tình cảm nhân văn. Nó là vẻ đẹp bay bổng thơ mộng thoát lên từ đời sống hiện thực. Nó tương phản với đời sống hiện thực nhưng lại trong một thể thống nhất.Nếu hiện thực là môi trường của những cái vốn có, hiện có thì vẻ đẹp lãng mạn là ước mơ, là lí tưởng để nâng đỡ con ngươi vượt qua đờ sống hiện thực vốn trần trụi.

Chất thơ trong truyện ngắn đã được tạo nên khi nhà văn chú ý khai thác và biểu hiện một cách tinh tế cái mạch cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhân vật hoặc của chính mình trước thế giới bằng những chi tiết, hình ảnh đầy gợi cảm và một lối văn trong sáng, truyền cảm, phù hợp với nhịp điệu riêng của cảm xúc, tâm hồn

Tô Hoài đã vẽ nên bức tranh về quang cảnh Tết đầy khác biệt trên núi cao. Tết không về theo lời hẹn trước, không nhất nhất phải đồng hành cùng tháng ấy, ngày ấy trên tấm lịch… Trái lại, người dân vùng núi miền Tây “cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kể ngày tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới”. Đó một phong tục rất đẹp, rất thơ của đồng bào vùng cao, cách tính ngày Tết rất độc đáo thể hiện thuần túy tư duy nông nghiệp. Họ ăn tết khi ngô lúa đã gặt xong, mùa xuân có niềm vui thu hoạch mùa màng. Nhịp sống của con người “hoà thuận” một cách hồn nhiên, tự nhiên cùng nhịp điệu của thiên nhiên, vũ trụ như thuở sơ khai.

Nhà văn đã có những câu văn thật hay nêu bật được hình ảnh đặc trưng về thiên nhiên Tây Bắc những ngày giáp Tết. Khi “các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”, người được an nhàn, thư thái thì vui chơi đón Tết. Có phải vì thế mà Tô Hoài tả cảnh Tết đến vào lúc “gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội”, nhưng vẫn gợi được cái không khí náo nức, tươi tắn của mùa xuân? Và dù cái Tết năm ấy đến Hồng Ngài “giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội” cũng không ngăn được niềm vui đang trỗi dậy trong tâm hồn những người dân ở đây, đặc biệt là ở những đôi trai gái yêu nhau. Hình ảnh những chiếc váy hoa “đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ” trong các làng Mèo Đỏ và tiếng sáo gọi bạn đi chơi “lấp ló ngoài đầu núi” mang hương vị độc đáo của mùa xuân Tây Bắc. Hình ảnh tết ở đây gắn liền với những đêm tình nồng nàn, mê đắm: “trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách”. Có cả bữa cơm Tết cúng ma, bữa rượu bên bếp lửa, rồi “người nhảy đồng, người hát”…Bằng lối “điểm xuyết” như thế, Tô Hoài dần xoá đi khoảng cách thời gian và không gian, đưa người đọc nhập vào nhịp sống riêng của miền đất này.

Từ dòng hồi ức của Mị, có thể cảm nhận được cái chất thơ vút lên từ cuộc sống của những con người bị vùi dập trong đau khổ, bất hạnh nhưng chưa bao giờ lụi tắt khát vọng sống, khát vọng tình yêu và tự do. Trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài, lúc đó, kiếp con dâu gạt nợ ở nhà thống lí đã biến Mị từ một cô gái trẻ trung, tài hoa, mạnh mẽ… thành người đàn bà nhẫn nhục, chai sạn trước đau khổ.

Nhưng bất chấp số phận cay đắng, nghiệt ngã, trái tim Mị vẫn âm thầm gìn giữ niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc. Khi đau khổ xoá mờ kí ức, Mị vẫn không quên giai điệu ngọt ngào, tha thiết của tiếng sáo gọi bạn tình. Nó quấn quýt, vương vấn, thức tỉnh, nâng đỡ, chắp cánh cho tâm hồn Mị: “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi […] Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng […] Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường […] Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo…”. Tiếng vẫy gọi của tình yêu đã làm sống dậy những cảm xúc và kỉ niệm Mị từng chôn vùi, quên lãng. Người đàn bà câm lặng suốt bao năm tháng giờ đây đang ngồi “nhẩm thầm bài hát” của người thổi sáo. Từng câu hát nồng nàn, tình tứ gọi về trong tâm tưởng những tháng ngày hạnh phúc, tươi sáng nhất: “Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lácũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Trong khoảnh khắc, Mị vượt qua mọi khoảng cách của thời gian, không gian, băng qua ranh giới của quá khứ và hiện tại để trở về sống trọn với tuổi thanh xuân tươi đẹp. Chất thơ toả sáng từ tâm hồn Mị – người con gái dẫu đi qua chốn địa ngục trần gian vẫn ấp ủ trong lòng bao xúc cảm đẹp đẽ và nồng ấm tình người. Mị dù qua bao bị đày đoạ đến chết đi sống lại nhưng luôn tiềm tàng sức sống và khát khao hạnh phúc mãnh liệt.

Tô Hoài cũng sáng tạo nhiều kiểu câu văn giàu nhịp điệu “như biết co duỗi nhịp nhàng” (Nguyễn Tuân). Có kiểu câu với cấu trúc tầng lớp, trùng điệp các vế, thường được dùng để miêu tả các sự kiện kéo dài, lặp lại, triền miên, nặng nề; có kiểu câu ngắn, dồn dập, diễn tả những biến động bất ngờ. Những cấu trúc mới lạ, phong phú đan xen, phối hợp với nhau một cách linh hoạt mang dến cho lời vãn tính đa thanh, phức điệu. Tất cả làm nên chất thơ của “Vợ chồng A Phủ” không thể không nhắc đến ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn với hàng loạt các âm thanh, các hình ảnh gợi hình, gợi cảm rất nên thơ và đậm màu sắc. Ngôn ngữ văn xuôi của Tô Hoài ngoài cái ý nghĩa cụ thể trong từng câu chữ còn có một cái vô hình khó chỉ ra nhưng hoàn toàn có thể cảm thấy, đó chính là giọng điệu, là âm điệu câu văn cùng tiết tấu nhịp nhàng của nó. Tiết tấu đó chính là sự thể hiện những điệu tâm hồn, những cung bậc khác nhau trong tình cảm của nhà văn.

Khi viết về những ngày tết ở Hồng Ngài, nhà văn Tô Hoài cũng rất chú ý miêu tả tiếng sáo. Sáo H’Mông có khả năng diễn tả ngôn ngữ của người H’Mông, thay họ nói lên tình cảm trong lòng: “Mày có con trai con gái rồi, Mày đi là nương. Ta chưa có con trai con gái, Ta đi tìm người yêu”. Đó là phương tiện giao duyên hữu hiệu của các chàng trai đối với con gái trong bản làng.

Ngôn ngữ văn xuôi của Tô Hoài giàu chất thơ, chất hoạ. Không thiếu những đoạn văn, đọc lên, ngỡ như mình đang đứng trước một bức tranh hay đang xem một trường đoạn phim với góc quay thật rộng: “Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ em đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa… Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội”. Gần rồi xa, cao và thấp, đậm xen nhạt, khi thì sắc nét như ở ngay trước mặt, lúc lại thấp thoáng mơ hồ như ở ngoài tầm mắt; vừa trải rộng với những nét vẽ sông, suối mềm mại, đã lại sừng sững thu về trong dáng núi gân guốc, hùng vĩ… của núi rừng Tây Bắc.

Nói về truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài từng tâm sự: “Thiên nhiên và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không bao giờ quên”.Chính những năm tháng không bao giờ quên ấy đã cho Tô Hoài chất liệu thấm đẫm chất thơ khi miêu tả thiên nhiên và con người Tây Bắc. Với sự gắn bó sâu nặng của mình với mảnh đất này, Tô Hoài đã truyền cho người đọc những rung cảm sâu xa với cảnh, với người bằng lối văn xuôi thấm đẫm chất thơ ngọt ngào, dịu dàng lan tỏa trong cảnh sắc, trong dòng hồi ức của Mị và trong nhịp điệu câu văn, trong lời bài hát, trong những từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm. Đoạn văn miêu tả đêm tình mùa xuân trên núi cao tiêu biểu cho ngôn ngữ văn chương thấm đẫm chất thơ của Tô Hoài trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.

Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 8
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn
Bài văn phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” số 8

Tin Tức tổng hợp 24h

Top 4 địa chỉ bảo hành hitachi uy tín

Published

on

Hitachi là thương hiệu uy tín được nhiều người tin dùng bởi mẫu mã sang trọng cùng chức năng hoạt động mạnh mẽ. Tuy nhiên, dù năng suất có tốt đến đâu thì qua thời gian dài sử dụng, tủ lạnh nhà bạn cũng sẽ gặp phải sự cố gây ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của gia đình. Bài viết tổng hợp của cẩm nang nhà bếp sẽ cho bạn biết các nơi bảo hành uy tín nhất năm 2022 hiện nay ngay sau đây.

Tại sao phải tìm đến các địa chỉ bảo hành Hitachi?

Bạn dành bao nhiêu thời gian để chăm sóc cho chiếc tủ lạnh của mình? Hầu hết mọi người đều có cuộc sống bận rộn, không mấy để tâm đến chiếc tủ lạnh nhà mình. Điều này khiến tủ lạnh nhà bạn dễ gặp tình trạng hỏng hóc khiến các chức năng hoạt động suy giảm. Chiếc tủ lạnh là công cụ phục vụ đời sống không thể thiếu trong mỗi gia đình thời hiện đại. Vậy mà chúng ta lại lơ là việc bảo dưỡng tủ lạnh, liệu chất lượng của nó có thể duy trì cùng thời gian hay không? Và khi đó, chất lượng người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng. Cũng chính vì thế mà việc bảo trì tủ lạnh cần được diễn ra thường xuyên. 

Bạn đang phân vân không biết đâu là địa chỉ bảo hành tủ lạnh Hitachi chất lượng? Dưới đây là Top 3 trung tâm bảo hành tủ lạnh Hitachi tại Hà Nội uy tín nhất mà bạn nên tham khảo.

Trung tâm bảo hành tủ lạnh Đình Nhật

Điện lạnh Đình Nhật là một trung tâm bảo hành đã được ủy quyền chính hãng đến từ thương hiệu Hitachi. Trung tâm hoạt động với việc luôn đảm bảo đầy đủ những chính sách bảo hành tại Hitachi đưa ra.

Điện lạnh Đình Nhật sau 10 năm liên kết và hoạt động với Hitachi, trung tâm bảo hành tủ lạnh luôn dành cho khách hàng một sự hài lòng nhất định.

Với trách nhiệm bảo hành đúng tiêu chuẩn, miễn phí và sửa chữa khi hết hạn. Do vậy, bạn sẽ cực kỳ yên tâm nếu sử dụng dịch vụ của trung tâm bảo hành tủ lạnh Hitachi Đình Nhật. 

Khung giờ từ 7h sáng đến 9h tối, gồm tất cả ngày trong tuần, chủ nhật hay lễ tết, Đình Nhật đều phục vụ bạn chu đáo và tận tình.

Sở hữu đội ngũ nhân viên kỹ thuật cao, kinh nghiệm dày dặn trên 10 năm sửa chữa. Mang trong mình phẩm chất đạo đức tốt giúp cho Đình Nhật đứng đầu trong những cuộc bình chọn. Do đó, chúng tôi luôn cam kết sẽ bảo hành và sửa chữa toàn bộ những vấn đề mà khách hàng gặp phải. 

Không phân biệt tủ lạnh lớn hay nhỏ, hạng cao cấp hay bình dân, cũ hay mới, tủ lạnh thường hay INVERTER.

Đình nhật cam kết rằng: Tất cả những thiết bị, phụ kiện thay thế mà trung tâm đang sử dụng đều được các nhà sản xuất chính hãng cung cấp. Hitachi đảm bảo 100% chính hãng và giảm 20% nếu tủ lạnh đã hết hạn bảo hành hay không đủ điều kiện để bảo hành. Chăm sóc khách hàng bằng điện thoại, tư vấn đưa ra giải pháp miễn phí. Hỗ trợ sửa chữa ngay trong vòng 30 phút khi nhận được yêu cầu từ khách hàng.

Thông tin liên hệ: 

Địa chỉ: số 246 Tam Bình, TP Thủ Đức.

Hotline: 0905.206.288

SĐT Tổng đài: 02866.809.584

Email: dienlanhdinhnhat68@gmail.com

Website: dinhnhat.com

Trung tâm bảo hành Hitachi tại nhà – nhanh chóng – tiện lợi

Trung tâm bảo hành tại nhà đã hoạt động với thâm niên 10 năm trong ngành sửa chữa và bảo hành. Trung tâm đảm bảo sẽ không có bất kỳ sự cố nào từ máy móc mà nhân viên không thể sửa chữa.

Đội ngũ nhân viên tại đây được tuyển chọn vô cùng kỹ lưỡng, thường xuyên được đào tạo các lớp về nghiệp vụ chuyên môn. Khả năng xử lý tình huống hiệu quả và nhanh chóng. Kiểm soát được tất cả những hư hỏng của máy móc một cách chuyên nghiệp, chất lượng.

Trang thiết bị hiện đại mà trung tâm bảo hành đang sở hữu, đảm bảo sẽ tìm ra nguyên nhân hỏng một cách chính xác, sớm nhất. Từ đó đưa ra phương án giúp cho khách hàng hạn chế chi phí sửa chữa. Hạn chế tối đa thời gian cho cả khách hàng và trung tâm.

Với chế độ mà trung tâm mang lại như: kiểm tra miễn phí tủ lạnh, báo giá trước khi yêu cầu sửa chữa hoặc thay mới. Đảm bảo thành thật với khách hàng về hư hại và báo giá.

Thời gian hoạt động của trung tâm là 24/7 bao gồm tất cả những ngày trong tuần và lễ tết. Đảm bảo khách hàng luôn được phục vụ tận tình khi đến với “Trung tâm bảo hành tại nhà”.

Đặc biệt, tất cả những thiết bị thay mới mà trung tâm sử dụng đều được bảo hành và đảm bảo cho khách hàng nhiều ưu đãi trong những lần tiếp theo.

Thông tin liên hệ:

Trụ sở chính:

270 đường Võ Thị Sáu – Phường 7 – Quận 3, TPHCM.

Số 8 Nguyễn Huệ – Phường Bến Nghé – Quận 1.

Số 91 Nguyễn Hữu Cảnh – Phường 22 – Quận Bình Thạnh.

8A Trường Sơn – Phường 2 – Quận Tân Bình.

Điện thoại: 0286.800.770 hoặc 0938.630.871

Website: http://trungtambaohanhtainh.com

Điện lạnh Huỳnh Anh – Trung tâm bảo hành tủ lạnh Hitachi uy tín và chất lượng nhất

Trung tâm bảo hành tủ lạnh Hitachi chi nhánh Huỳnh Anh là trung tâm điện lạnh đã được ủy quyền. Hiện nay trung tâm này được coi là địa điểm sửa chữa, bảo hành uy tín bậc nhất tại TPHCM. Với hệ thống chi nhánh trải dài khắp các quận huyện từ nội thành đến ngoại thành. Do đó, điện lạnh Huỳnh Anh đảm bảo phục vụ cho khách hàng nhanh nhất có thể nhưng vẫn đầy đủ sự uy tín và chất lượng cao.

Bạn nhận được lợi ích gì khi đến với Điện lạnh Huỳnh Anh?

Bảo hành miễn phí nếu sản phẩm còn hạn bảo hành. Sản phẩm hết hạn bảo hành ít hơn 6 tháng được tăng hỗ trợ trong quá trình sửa chữa hay thay mới.

Kỹ thuật viên chuyên nghiệp đã được đào tạo chuyên môn bài bản,  được huấn luyện nghiệp vụ hàng năm. Nhằm nâng cao chất lượng sửa chữa, xử lý triệt để mọi hư hỏng của sản phẩm. Hoàn thành công việc thật xuất sắc.

  • Phong cách chuyên nghiệp, chu đáo, tư vấn tận tình. Tinh thần trách nhiệm cao. Luôn minh mạch trong quá trình sửa chữa, báo giá sản phẩm cho khách hàng.
  • Tuân thủ đúng quy trình sửa chữa. 
  • Thời gian linh động, nhanh chóng giúp khách hàng chủ động sắp xếp thời gian.
  • Chế độ ưu đãi cho khách hàng là vô cùng hấp dẫn. Ví dụ như giảm giá linh kiện, vệ sinh miễn phí, tặng phiếu mua hàng…

Thông tin liên hệ:

Địa chỉ: số 38 Cây Keo, phường Tam Phú, TP Thủ Đức.

Hotline: 02822.477.877 hoặc 0931.757.139

Email: Dienlanhhuynhanh@gmail.com

Website: http://dienlanhhuynhanh.com
Trên đây là Top 3 địa chỉ bảo hành hitachi uy tín mà bạn có thể tham khảo để giúp bạn và gia đình nâng cao chất lượng cho chiếc tủ của mình. 

=> Địa chỉ bảo hành bosch tại hà nội

Continue Reading

Tin Tức tổng hợp 24h

Top 10 Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao

Nam Cao được biết đến trong lịch sử văn học Việt Nam là một nhà văn hiện thực xuất sắc. Ổng để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị trên cả hai đề tài về người trí thức tiểu tư sản và người nông dân nghèo. Nhưng tên tuổi của ông vẫn gắn liền với tác phẩm “Chí Phèo”- Một kiệt tác của Nam Cao, một tác phẩm mang đậm giá trị nhân đạo sâu sắc, đồng thời cũng phê phán cái xã hội thối nát bấy giờ. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” đã dược Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Published

on

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 1

Nam Cao là một nhà văn lớn của dân tộc. Ông chuyên viết về người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ. Họ không những nghèo mà thậm chí còn bị đẩy vào bước đường cùng, bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính. Điển hình trong đó là tác phẩm Chí Phèo. Qua những biến cố nghiệt ngã trong cuộc đời Chí từ một chàng thanh niên hiền lành chịu khó trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại, Nam Cao không những nói lên sự thật cay đắng về số phận của những người nông dân bất hạnh và bất lực dưới ách thống trị tàn ác của thực dân phong kiến, mà còn thể hiện giá trị nhân đạo rất sâu sắc. Ông cảm thương và xót xa cho những mảnh đời cơ cực.

Trung tâm của tác phẩm là Chí Phèo – đại diện cho những người nông dân bị bần cùng hóa tới mức đánh mất chính bản thân mình, lao vào con đường tội lỗi và tối tăm. Chí dù không cha không mẹ nhưng Chí vẫn trở thành một con người tốt. Chí làm thuê làm mướn, chịu thương chịu khó kiếm sống nuôi thân. Nhưng đường đời vốn dĩ lắm truân chuyên, Chí bị gia đình Bá Kiến đẩy vào tù. Năm tháng tù đày và lòng hận thù biến Chí trở thành một con người hoàn toàn khác từ ngoại hình cho đến tính cách. Chí xăm trổ những hình thù quái dị, cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn… trông gớm chết. Trước đây Chí tốt đẹp bao nhiêu thì giờ đây lại xấu xa, tồi tệ bấy nhiêu.

Con đường tha hóa của Chí tỉ lệ thuận với sự tàn ác, bất nhân của chế độ phong kiến. Trong xã hội ấy còn rất nhiều người giống như Chí. Chí chỉ là một nhân vật điển hình trong phần người đông đảo ấy. Họ bị như vậy không phải vì bản thân quá yếu hèn, không có nghị lực vươn lên, mà vì sự tàn ác của chế độ quá lớn. Trong khi đó họ lại chỉ là những người nông dân thấp cổ bé họng, không tiền, không địa vị, không học thức. Làm sao có thể chống lại được với giai cấp đầy quyền lực và tàn nhẫn? Nam Cao bày tỏ sự xót thương và đồng cảm sâu sắc với Chí và những con người bất hạnh như Chí.

Trong chuỗi ngày dài dằng dặc với những niềm cay đắng chồng chất giống như những vết sẹo chằng chịt trên khuôn mặt trong những lần vạch mặt ăn vạ, nhà văn đã đưa thị Nở đến với Chí. Sự kiện này đã làm Chí tỉnh thức và tìm lại được chính mình. Sau đêm gặp thị, Chí tỉnh táo và nhận thức được mọi thứ xung quanh mình. Cuộc sống thật giản đơn mà lại hạnh phúc đến vậy. Tiếng mái chèo gõ cá, tiếng chim hót, tiếng người nói lao xao đi chợ, và dáng dấp của một người đàn bà ngay cạnh bên, tất cả đã mang đến cho Chí sự quyết tâm trở lại làm người lương thiện. Đằng sau những tiếng chửi chua ngoa, sau những trận rượu say xỉn triền miên, ta lại thấy một Chí Phèo đầy lòng nhân ái và giàu tình yêu thương. Có thể thị dở hơi nên thị không ý thức được điều mình đang làm là sống cùng với một thằng không cha không mẹ, chuyên đi rạch mặt ăn vạ nhưng Chí đang hoàn toàn tỉnh táo.

Trước mặt Chí là người đàn bà ế chồng, xấu xí và ngờ nghệch nhưng điều đó có là gì khi Chí cảm nhận được tình cảm rất chân thật và trong sáng của thị. Thị chẳng hề đắn đo suy nghĩ hay có bất kì một thành kiến nào đối với một kẻ đi ở tù về như Chí. Thị dở nhưng tấm lòng của thị rất thánh thiện. Bát cháo hành thị nấu được nêm gia vị bằng sự đồng cảm, bằng tình yêu thương rất chân thật. Bát cháo ấy đã đánh thức phần người trong Chí trỗi dậy. Chí muốn cùng thị thực hiện ước mơ ngày nào của mình: có một gia đình nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải thêu thùa. Ước mơ ấy không chỉ của riêng Chí mà của rất nhiều người. Chí không chê thị dở, lại càng không chê thị xấu. Có thể do tình yêu mù quáng, nhưng ước mơ kia của Chí là điều rất đúng đắn và nghiêm túc. Sau bao nhiêu biến cố xảy ra, sau những vết sẹo kéo dài trên mặt, Chí lại trở về là một con người rất hiền lành, rất tốt tính. Mối tình của Chí với thị như một ân huệ mà Nam Cao muốn dành cho đứa con đẻ của mình, để Chí được một lần trong đời sống hạnh phúc dù chỉ là ít ỏi. Bởi ngay sau đó, thị đã nghe lời bà cô cự tuyệt Chí.

Thêm lần nữa Chí chìm vào cơn say. Nhưng cơn say này khác với những cơn say trước. Bởi nó có lẫn men rượu với hơi cháo hành thoang thoảng. Sự tuyệt vọng và lòng hận thù lại trào dâng trong Chí, dẫn bước chân Chí tới thẳng nhà Bá Kiến dù trong đầu xác định đến nhà thị Nở để giết chết con khọm già nhà nó. Nhưng họ đâu có tội tình gì. Chí ra nông nỗi này đều do Bá Kiến gây nên. Chí giết chết hắn rồi tự tử. Chí không muốn sống tiếp cuộc đời đằng đẵng những khổ đau này nữa. Ngay cả một ước mơ giản đơn nhất Chí cũng không được quyền thực hiện. Chí được sinh là làm người nhưng lại sống như một con quỷ dữ, chẳng ai dám lại gần Chí. Cho tới khi thị đến nhưng cuối cùng thị cũng quay lưng lại với Chí. Chí cảm thấy cô đơn và lạc lõng giữa biển người mênh mông. Chí sợ rằng tuổi già của mình sẽ trở nên cô độc và đau khổ… Chí chết, Chí sẽ không còn phải tiếp tục chìm trong men say nữa, cũng chẳng phải xuất hiện trước mặt mọi người với dáng dấp trông gớm chết.

Dù Chí chết, nhưng còn có một Chí Phèo con trong bụng thị Nở. Thị cúi xuống và nghĩ tới cái lò gạch xa xa. Bá Kiến chết còn có Lý Cường. Hắn cũng gian ác và xảo trá như cha hắn. Chí chết, câu chuyện kết thúc nhưng những bất công và những số phận bất hạnh như Chí Phèo vẫn còn tồn tại nhiều trong xã hội. Không biết rằng có bao nhiêu thị Nở để mang đến niềm hạnh phúc dù là ít ỏi cho những cuộc đời ấy. Qua đó, nhà văn Nam Cao muốn gửi gắm và bày tỏ niềm xót thương, sự đồng cảm của mình đối với người nông dân cùng khổ. Đồng thời ông cũng ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp, những tấm lòng lương thiện còn sót lại sau những xô bồ, bon chen của cuộc sống lao đao, lận đận.

Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, Nam Cao đã dựng lên một Chí Phèo mang giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 1
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 1

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 2

Nam Cao được biết đến trong lịch sử văn học VN là một nhà văn hiện thực xuất sắc. Ổng để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị trên cả hai đề tài về người trí thức tiểu tư sản và người nông dân nghèo. Nhưng tên tuổi của ông vẫn gắn liền với tác phẩm Chí Phèo- Một kiệt tác của NC, một tác phẩm mang đậm giá trị nhân đạo sâu sắc, đồng thời cũng phê phán cái xã hội thối nát bấy giờ.

Xây dựng nên hình tượng người nông dân bị tha hóa trong xã hội thực dân trước Cách mạng tháng Tám là một sáng tạo mới trong nền văn xuôi nước nhà nói chung và của Nam Cao nói riêng. Nhà văn đã cảm nhận được cái vẻ đẹp chất phác, bình dị ẩn chứa trong cái vẻ bề ngoài thô ráp, xù xì của họ, mà tiêu biểu là nhân vật Chí Phèo- một điển hình nghệ thuật về người nông dân bị xô đẩy chà đạp đến mức tha hóa. Chí không may mắn khi được sinh ra trong một gia đình không đàng hoàng, không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi. Có một hoàn cảnh sống tội nghiệp, nhưng Chí lớn lên khá khỏe mạnh, hiền lành, lương thiện,… Có một ước mơ giản dị như bao người nông dân khác: một gia đình nhỏ, chồng cày cấy, vợ dệt vải… Vốn từng mang trong mình bản chất của một con người đúng nghĩa, Chí phân biệt được đúng sai, tốt xấu qua hành động bóp chân cho bà Ba- “Hắn cảm thấy nhục hơn là thích”.

Sống ở một cái xã hội bình thường, người như Chí hoàn toàn có thể sống một cách lương thiện yên ổn. Nhưng cuộc đời nào có hai chữ “bình lặng”…Bằng ngòi bút lạnh lùng nhưng đa cảm, Nam Cao đã cho thấy tất cả nỗi thống khổ ghê gớm của nhân vật Chí Phèo . Nỗi thống khỏ đó không phải là không cha không mẹ, không nhà không của, không họ hàng thân thích… mà chính là Chí Phèo bị xã hội vằm nát của cả bộ mặt người, cướp đi lình hồn người phải sống kiếp sống tối tăm của con vật lạ. Đó là nỗi thống khỏ của cá thể sinh ra là hình hài của một con người nhưng lại không được làm người và bị xã hội từ chối, xua đuổi. Tình trạng bi thảm này được tác giả mình chứng cho đoạn mở đầu giới thiệu một chân dung, một tính cách “hấp dẫn”, vừa hé cho thấy một số phẩn bi đát.

Dù say rượu đến điên khùng, Chí Phèo vẫn như cảm nhận thấm thía”nông nỗi” khốn khổ của thân phận mình. Anh chửi trời, chửi đời rồi chuyển sang chửi tất cả làng Vũ Đại, cuối cùng ảnh chửi cái thằng cha con mẹ nào đẻ ra thằng Chí Phèo. Không ai chửi lại vì rất đơn giản là không ai coi anh như là một con người. Nam Cao có vài cái nhìn đầy chìu sâu nhân đạo khi đi vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của những con người khốn khổ. Chí Phèo đến với Thị Nở trong một đêm say rượu. Như điều kì diệu là TN không phải chỉ khơi dậy bản năng ở gã đàn ông say, mà lòng yêu thương mộc mạc, chân thành, sự chăm sóc giản dị của người đàn bà xấu xí, vô duyên và ngớ ngẩn ấy đã làm thức tỉnh Chí Phèo.

Trong tâm hồn tưởng chừng như đã chai sạn, thậm chí bị hủy hoại của Chí Phèo, phần lương thiện ngày thường bị lấp đi vẫn le lói một ánh sáng lương tri, sẽ bừng sáng lên lúc gặp cơ hội. Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, anh bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng đập mái chèo đuổi cá , tiếng cười nói của những người đi chợ, thì niềm ao ước một gia đình nhỏ lại trỗi dậy trong lòng anh sau những tháng ngày dài chìm trong cơn say khướt. Nam Cao đã phát hiện ra ngọn đóm đỏ đăng hắt hiu le lói, việc cuối cùng là cho nó chút mồi để nó bùng lên. Nhưng còn đường đời của Chí lại bị chắn đứng lại. Bà cô của TN – Nhân vật đại diện cho suy nghĩ của dân làng Vũ Đại đã nhất quyết không cho cháu mình đi lấy một “thằng chỉ có nghề là rạch mặt ăn vạ”. Cánh cửa quay về lương thiện đã đóng xập trước mặt Chí.

Đau khổ CP phải cất lên tiếng thét “Tao muốn làm người lương thiện…”, “Ai cho tao lương thiện?..” Chí đã nhận thức được bản chất con người của mình thì không còn nguyên cớ nào lại có thể biến anh sống trở lại kiếp quỷ dữ, không thể tiếp tục rạch mặt ăn vạ, giết người đốt nhà. Chí đã đâm chết bá kiến và tự kết thúc cuộc đời mình. Đó là một kết cục bi thảm nhất, đồng thời cũng là chiếc chìa khóa giải thoát CP khỏi kiếp đời trớ trêu, cái kiếp số muốn sống như một con người nhưng không thể được. Chính cái xã hội thối nát thời bấy giờ đã tạo ra những sản phẩm như Chí Phèo-hình ảnh tiêu biểu của người lao động lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tôi lỗi dần dần bị tha hóa về thể xác lẫn tâm hồn. Mà đại diện cho giai cấp thống trị chính là Bá Kiến-một tên cường hào cáo già trong nghề thống trị dân đen, được khắc họa qua những chi tiết ngoại hình độc đáo, từ “giọng nói rất sang”, lối nói ngọt ngào đến cái cười Tào Tháo…

Vì sự hờn ghen vớ vẩn của hắn đã đẩy Chí vào con đường tù tội. Chốn lao ngục ấy của bọn thực dân đã tiếp tay cho lão cường hào thâm độc để giết chết phần người trong Chí Phèo, biến Chí thành Phèo, biến người nông dân lương thiện thành quỷ dữ. Sự tha hóa ấy không chỉ có Bá Kiến, nhà tù thực dân gây ra, mà còn những người dân sống ở làng Vũ Đại mà tiêu biếu nhất là bà cô của TN- Con người đã tạo ra bức tường vô hình ngắn cách Chí đến với cuộc sống đích thực của một người lương thiện. Kết thúc câu truyện là một tình tiết đầy ngụ ý, biết đâu lại chẳng có một “CP con” bước ra từ cái lò gạch cũ vào đời để “nối nghiệp bố”. Hiện tượng Chí Phèo chưa thể hết khi xã hội tàn bạo vẫn không cho con người được sống hiền lành, tử tế, vẫn còn những người dân lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tội lỗi. Sức mạnh của tác phẩm là vạch ra được cái quy luật tàn bạo, bi thảm này trong cái xã hội tối tăm của nông thôn nước ta thời đó.

Tác phẩm Chí Phèo mạng đậm giá trị nhân đạo đặc sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương của NC đối với những người khốn khổ. Chí Phèo còn là tiếng kêu cứu thiết tha của những người bất hạnh. Hãy bảo vệ và đấu tranh cho quyền được làm người của những con người lương thiện.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 2
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 2

3


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 3

Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945. Chí Phèo có lẽ là tác phẩm thành công hơn cả trong việc đem lại cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội vạn ác đã chà đạp lên nhân phẩm con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.

Căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông, yêu thương trân trọng con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45. Tuy nhiên, trong tác phẩm Chí Phèo,Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó cũng là một hiện thực phổ biến. Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí, không còn được là con người mà trở thành một con “quỉ dữ”, bởi âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một guồng máy thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn đương thời.

Thật ra trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẩm thấu, thống nhất với nhau, khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Bởi vì nội dung phản ánh (và tiếp nhận) – yêu thương, trân trọng hay căm ghét, khinh bỉ? Tách riêng ra hai giá trị là làm phá vỡ sự gắn liền hữu cơ của một chỉnh thể nghệ thuật vốn dĩ thống nhất.

Đọc xong tác phẩm Chí Phèo ta thấy gì? Mở đầu tác phẩm là cảnh Chí Phèo ngật ngưởng trên đường đi vừa chửi, từ trời đến người, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi. Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ, gây gổ… trong đó Chí Phèo hiện lên như một biếm họa tiêu biểu. Hãy nghe nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?.

Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỉ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời. Có lẽ hắn cũng biết rằng hắn là quỉ dữ của làng Vũ Đại để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu nước mắt của bao nhiêu người lương thiện… Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua…”

Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn được cuộc sống của một con người. Những năng lực vốn có của một con người – năng lực cảm xúc, nhận thức – hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách. Chí Phèo bị phá hủy nhân tính lẫn nhân hình như thế bởi đâu? Nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa ấy. Ông thiên về lí giải phân tích cái cội nguồn sâu xa dẫn đến kết cục bi thảm của nó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá Kiến, về nhà tù, về bà cô Thị Nở, về dư luận xã hội nói chung… Trong hàng loạt mối liên kết ấy, người đọc dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo (và không chỉ Chí Phèo mà cả những Năm Thọ, những Binh Chức – cả một tầng lớp được nhà văn cá thể hóa qua nhân vật Chí Phèo) từ một thanh niên lành như cục đất hoá thành con quỉ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thuở lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương, và đặc biệt khi lớn lên, chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn.

Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già “khôn róc đời”, “ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “mềm nắn rắn buông”, “Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hay đập bàn đập ghế đòi cho được 5 đồng, nhưng được rồi lại vứt trả lại 5 hào vì thương anh túng quá!”. Chính hắn đã lập mưu đẩy Chí Phèo vào chỗ tù tội oan uổng và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có Chí Phèo, nhưng Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà thậm chí là phương tiện tối ưu để thống trị: “không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò”. Chính Bá Kiến đã rút ra cái kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy. Là một tội nhân, nham hiểm, nhẫn tâm, nhưng Bá Kiến lại hiện ra bề ngoài như một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn bằng cặp mắt “kính cẩn”…

Vì thế mà hắn đã lường gạt được bao nhiêu dân chất phác lương thiện. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm Chí Phèo như một nhân vật điển hình, sống động và cá biệt, tiêu biểu cho một bộ phận của giai cấp thống trị, được miêu tả, khám phá dưới một ngòi bút bậc thầy. Cùng với hắn là Lý Cường, là chánh Tổng, là đội Tảo… Chính bọn chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam thành cái thế “Quần ngư tranh thực” (bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi, chỉ trực rình rập tiêu diệt nhau).

Chính chúng là thủ phạm gây ra bi kịch của những Chí Phèo… Số phận của Năm Thọ, Binh Chức, tuy chỉ được nhắc qua tác phẩm, nhưng cũng góp phần chỉ ra tính hệ thống và phổ biến của phương cách tha hóa người dân trong sự thống trị của chúng. Đằng sau những Bá Kiến, Lý Cường, Chánh Tổng… như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu – cả một điều kiện môi trường bất hảo. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết rằng khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khỏi tù, hắn trở về với cái vẻ hung đồ, cái thói du côn ương ngạnh học được từ đấy. Nhà văn chỉ nói có thế. Nhưng như thế với bạn đọc thông minh cũng đã quá đủ!

Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lý và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn, nhưng chất chứa bên trong biết bao nỗi niềm quằn quại, đau đớn trước thân phận đau đớn của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực trên kia là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gởi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo.

Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng. Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hất hủi. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe ra một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm thanh ấy bao giờ chả có.

Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn, trong cái phút tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc – cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau. Cũng may Thị Nở mang bát cháo hành tới. Nếu không, hắn đến khóc được mất trong tâm trạng như thế… Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng khuâng: Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền! “Hắn thèm lương thiện – Hắn khát khao làm hòa với mọi người”… Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nường nào!

Bằng chi tiết này, Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ – Nhà văn như muốn hòa vào nhân vật để cảm thông, chia sẻ những giây phút hạnh phúc thật hiếm hoi của Chí Phèo… Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém, rạch mặt ăn vạ… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời. Và, như Đỗ Kim Hồi nói, “một khi người được nếm trải chút ít hương vị làm người thì cái xúc cảm người sẽ không thể mất… Đấy là mối bi thảm tột cùng mà cách giải quyết chỉ có thể là cái chết”. (Tạp chí Văn học số 3-1990)

Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người! Đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 3
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 3

4


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 4

Là nhà văn trung thành với chủ nghĩa chân thực, cũng như các cây bút tả chân đương thời, Nam Cao quan tâm trước hết tới việc đi sâu thể hiện tình cảm khốn khổ của người nghèo bị áp bức, trong đó có tác phẩm Chí Phèo. Tác phẩm tượng đậm nét về bức tranh đời sống xã hội nông thôn. Đó là hệ thống trật tự của làng Vũ Đại: là ấn tượng về tình trạng khép kín của làng xã phong kiến. Đặc biệt nó đã phơi bày các mối quan hệ xã hội phức tạp của hiện thực đã miêu tả trung thực những quan hệ thực. Đồng thời là tình thương đối với những con người bị xã hội đẩy vào con đường tha hóa, bị hắt hủi… Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo của Chí Phèo.

Nam Cao được coi là Nhà văn của nông dân trước hết vì có tác phẩm Chí Phèo Tác phẩm có phạm vi phản ánh hiện thực trải ra cả bề rộng không gian và bề dài thời gian. Làng Vũ Đại trong tác phẩm chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam đương thời. Ngòi bút Nam Cao tỏ ra sắc sảo khi vạch ra mối quan hệ thực trong nội bộ bọn cường hào. Chẳng phải vì đất làng Vũ Đại có cái thế quần ngư tranh thực như lời ông thầy địa lí nói nên bọn cường hào chia năm bè bảy cánh đối nghịch nhau, mà do chúng là một đàn cá tranh mồi, mồi thì ngon đây, nhưng năm bè bảy mối. Ngoài mặt tử tế với nhau nhưng trong bụng muốn cho nhau lụn bại. Đây là hiện tượng có tính quy luật ở nông thôn, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội – ruồi muỗi phải chết oan uổng khi trâu bò húc nhau.

Dựng nên bức tranh xã hội ở nông thôn, trước hết Nam Cao tập trung làm nổi bật xung đột giai cấp giữa địa chủ cường hào với người nông dân bị áp bức – phản ánh hiện thực nông thôn trên bình diện mâu thuẫn giai cấp. Nó làm nên giá trị nhận thức và sức mạnh phê phán to lớn. Nam Cao đã xây dựng hình tượng điển hình về giai cấp thống trị ở nông thôn: Bá Kiến – lão cường hào cáo già với giọng quát rất sang, cái cười Tào Tháo cho thấy bản chất gian hùng, khôn róc đời. Và tư cách nhem nhuốc của cụ tiên chỉ thói ghen tuông. Bá Kiến nghiền ngẫm về nghề thông trị, rút ra phương châm: mềm nắn, rắn buông, bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu, thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân… Với chính sách: lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò, thu dụng những thằng bạt mạng, không sợ chết, không sợ đi tù.

Nam Cao không đi vào nạn sưu thuế, tô tức, tham nhũng mà ở Chí Phèo Nam Cao đi vào phương diện: người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn hủy diệt về nhân cách, bị phủ nhận tư cách làm người. Nỗi thống khổ của Chí Phèo không phải ở chỗ cuộc đời Chí Phèo chỉ là số không: Không nhà cửa, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm dùi… mà chính ở chỗ Chí Phèo bị xã hội rạch nát bộ mặt, cướp đi linh hồn, bị loại khỏi xã loài người, sống kiếp quỷ dữ.

Mở đầu tác phẩm là hình ảnh Chí Phèo ngật ngưỡng vừa đi vừa chủi. Nhưng đằng sau chân dung gã say rượu cái gì như là sự vật vã của một linh đau đớn, tuyệt vọng. Tiếng chửi của Chí Phèo không hẳn là bâng quơ. Tuy nhưng vẫn mơ hồ thấm thìa nỗi khổ của thân phận. Chí Phèo là điển hình một bộ phận cố nông bị đẩy vào con đường lưu manh hóa. Chí Phèo trước hết hiện tượng có tính quy luật của tình trạng áp bức bóc lột tàn bạo ở nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là hiện tượng những người nông dân bị đè nén thái quá đã chống trả lại để tồn tại bằng việc bán cả nhân phẩm đã trở thành lượng mù quáng dễ dàng bị bọn thống trị lợi dụng.

Vì thế, Chí Phèo từ chỗ liều chết với bố con lão, chỉ cần lời nói và mấy hào chỉ trở thành tay say mới lão. Sức mạnh tố cáo to lớn của hình tượng Chí Phèo trước hết đã làm nổi hình tượng có tính quy luật diễn ra ở nông thôn – hiện tượng lưu manh hóa. Song ý nghĩa khái quát của hình tượng Chí Phèo còn ở cấp độ cao hơn: sự hủy diệt nhân tính trong xã hội độc ác, không cho con người được làm người. Tác phẩm Chí Phèo không dừng ở đó mà với câu chuyện về mối tình Chí Thị, bằng giọng vẫn bông lơn, có lúc như chế giễu chuyện tình của hạng nửa người nửa ngợm thì đây vẫn là chuyện có nội dung nghiêm túc, chứa đựng tư tưởng nhân đạo mới mẻ.

Giữa lúc cả làng Vũ Đại không chấp nhận giao tiếp, xem Chí như quỷ dữ thì một người đàn bà thuộc dòng giống mả hủi, xấu đến ma chê quỷ hờn lại có tấm lòng vàng, thấy Chí hiền lành, Thị Nở chính là chiếc cầu nối đưa Chí ở đáy sâu của tha hóa thức tỉnh bản chất người lao động. Bằng sự chăm sóc giản dị, tình yêu thương mộc mạc mà chân thành của người đàn bà khốn khổ đã khơi dậy linh hồn Chí Phèo. Chí nghe thấy những âm thanh cuộc sống thường ngày mà bây lâu nay vùi trong những cơn say nên Chí không biết đến. Nó vang động sâu xa trong lòng Chí, trở thành tiếng gọi cuộc sống khẩn thiết, làm Chí nhớ đến ước mơ ngày nhỏ ngày xưa.

Có lẽ đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Chí tỉnh táo để tự ý thức về thân phận. Để rồi nhận ra sự tác oai, tác quái của mình bấy lâu nay. Và mong muốn : giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?… Hay mình sang ở với tớ một nhà cho vui? Khi Thị Nở bê bát cháo hành đến hắn ngạc nhiên bởi đây là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Hắn nhận ra hương cháo hành – hương vị tình yêu thương chân thành, hạnh phúc giản dị mà có thật. Hắn thèm lương thiện, làm hòa với mọi người. Tình yêu của Thị Nở cũng sẽ hé ra cho hắn con đường trở lại tình yêu chân chính đã nhân đạo hóa con người. Chẳng phải tình yêu có phần thô lỗ của người đàn bà xấu xí đã gọi dậy linh hồn người trong con quỷ dữ đó sao?

Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở tấn bi kịch tinh thần của Chí Phèo: bi kịch của con người bị từ chối không được làm người. Khi hiểu ra xã hội không công nhaanh mình, bà cô Thị Nở – định kiến xã hội đã không chấp nhân cho cháu bà đến với Chí. Chí vật vã đau đớn. Hắn càng uống càng tỉnh , hắn ôm mặt khóc rưng rức. Chí quằn quại, đau đớn vì tuyệt vọng, thấm thìa về tội ác kẻ thù. Chí Phèo trợn mắt chỉ tay vào Bá Kiến đòi quyền làm người, đòi lại bộ mặt người đã bị vằm nát. Kẻ thù bị đền tội, và sau đó Chí tự sát. Chí phải chết vì ý thức nhân phẩm đã trở về, không chấp nhận kiếp thú vật. Chí Phèo chết giữa ngưỡng cửa trở về cuộc sống. Chí chết quằn quại trong vũng máu, trong khao khát được làm người lương thiện. Ai cho tao lương thiện là lời nói đanh thép, phẫn nộ, làm người đọc sững sờ và day dứt. Đó vẫn là một câu hỏi lớn không lời đáp.

Chí Phèo của Nam Cao được đánh giá cao chính ở giá trị tố cáo. Thông qua số phận Chí Phèo, Nam Cao phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam lúc bây giờ thực trạng người nông dân bị đày đọa, đề nén và âm thầm chịu đựng nỗi tuyệt vọng, liều lĩnh phản ứng cực đoan. Nam Cao cũng bày tỏ niềm cảm thông, tình thương yêu đối với người nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hóa, phát hiện ràn chất tốt đẹp vốn có của họ. Song cũng như các nhà văn hiện thực đồng thời, chưa tìm được cho nhân vật của mình lối thoát. Sau này, bằng con đường cách nạng. Tô Hoài, Kim Lân đã tìm cho nhân vật mình một hướng đi riêng.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 4
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 4

5


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 5

Truyện ngắn Chí Phèo là một trong những kiệt tác của văn học hiện thực khi viết về người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Trong tác phẩm, nhà văn Nam Cao không chỉ phơi bày nỗi khổ của con người, khổ vì đói nghèo, khổ vì tha hóa nhân cách mà còn thể hiện sự đồng cảm, trân trọng với những giá trị “người” bên trong những con người đầy khổ đau, những nạn nhân đáng thương của xã hội ấy. Tinh thần nhân đạo sâu sắc cũng là một trong những giá trị nổi bật làm nên sức sống mạnh mẽ của Chí Phèo trong lòng của mỗi độc giả.

Giá trị nhân đạo hiểu một cách đơn giản nhất, đó chính là sự cảm thông, đồng cảm trước nỗi đau của con người, là sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn của những con người bé nhỏ; giá trị nhân đạo còn thể hiện trong thái độ bênh vực con người, lên án những thế lực bạo tàn đã chà đạp, tước lên quyền tự do, quyền sống của họ.

Phân tích giá trị nhân đạo được nhà văn Nam Cao thể hiện thông qua truyện ngắn Chí PhèoTrong truyện ngắn Chí Phèo, tư tưởng nhân đạo của nhà văn Nam Cao được thể hiện ở chỗ hướng ngòi bút khám phá đời sống bị đọa đày cả về thể xác và tinh thần của những người lao động lương thiện. Chí Phèo là anh canh điền hiền lành, lương thiện nhưng cuộc sống bất công đã đẩy Chí đến con đường lưu manh hóa, trở thành con quỷ dữ làng Vũ Đại. Thế nhưng, tác giả Nam Cao không lên án Chí như một thứ người- vật như bao người dân làng Vũ Đại mà ông đã hướng ngòi bút đến khám phá đến nội tâm sâu thẳm của con quỷ dữ ấy.

Bên ngoài vẻ bất cần, liều lĩnh của kẻ chỉ biết “rạch mặt ăn vạ” lại là bản chất của một người nông dân lương thiện với những khát khao bình dị “chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải”. Và khi ý thức được bi kịch khủng khiếp của cuộc đời mình, khi biết không thể quay lại con đường lương thiện như mình khao khát thì Chí thà lựa chọn cái chết chứ kiên quyết không chịu làm con quỷ dữ nữa. Thế mới thấy bên trong những con người bị tha hóa cả về nhân hình lẫn nhân tính như Chí Phèo vẫn tồn tại những phần rất người, đó là bản chất lương thiện sáng trong mà hoàn cảnh đen tối của xã hội không thể diệt trừ mà chỉ có thể làm nó bị tê liệt.

Thị Nở là người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn, lại dở hơi, nhà có mả hủi nhưng bên trong diện mạo xù xì, gớm ghiếc ấy lại là tình thương đầy ấm áp, là tấm lòng thiện lương đáng quý. Và cùng chính sự quan tâm, thương yêu chân thành của Thị Nở đã cảm hóa và thức tỉnh phần nhân tính còn lại bên trong Chí Phèo. Cũng từ khi gặp được Thị, Chí Phèo đã nhớ về những mơ ước bình dị khi còn trẻ, khát khao được lương thiện và làm hòa với mọi người.

Cũng qua tấn bi kịch tha hóa của Chí Phèo, tác giả Nam Cao đã cất lên tiếng kêu cứu đầy thảm thiết và phẫn uất khi giá trị của con người bị cái đen tối, bất công của xã hội chà đạp, tha hóa. Từ đó tác giả đặt ra vấn đề nhức nhối: làm thế nào để cứu con người khỏi cái xã hội vùi dập vô nhân tính ấy, mang đến cuộc sống chính đáng để con người được sống lương thiện. Cần phải tiêu diệt xã hội bất công không tình người ấy để con người được sống nhân đạo hơn.

Không chỉ phơi bày bi kịch của người lương thiện khi bị chà đạp, tha hóa về nhân hình, nhân tính tác giả Nam Cao còn lên án gay gắt hiện thực xã hội phong kiến bạo tàn đã gây nên bao bi kịch cho con người. Đại diện cho giai cấp thống trị ở đây chính là Bá Kiến, lão cường hào ma mãnh, xảo quyệt của làng Vũ Đại, một tay hắn đã đẩy bao kẻ vào con đường tha hóa, phá nát bao cơ nghiệp của những người dân bất hạnh. Đến cuối tác phẩm, tác giả Nam Cao đã để cho Chí Phèo vung dao lên để giết chết Bá Kiến, thể hiện thái độ phẫn uất trước sự tồn tại của cái bạo tàn, xấu xa.

Tuy nhiên, Bá Kiến chết thì vẫn còn Lí Cường, Chí Phèo chết thì cũng sẽ còn bao kẻ lương thiện khác cũng có thể tiếp tục bị đẩy đến con đường lưu manh hóa. Chỉ có thể bảo vệ cuộc sống lương thiện của con người khi xã hội phong kiến bạo tàn, chế độ người bóc lột người bị tiêu diệt.

Tư tưởng nhân đạo của nhà văn Nam Cao còn được thể hiện thông qua thái độ đồng cảm, trân trọng đối với giá trị của con người. Đó là phần lương thiện bên trong con người Chí Phèo, tình thương yêu đáng trân trọng bên trong Thị Nở. Nam Cao đã thể hiện thái độ trân trọng đối với những con người ở đáy sâu tăm tối của xã hội để thấy được ánh sáng tình người bên trong con người họ.

Có thể nói Chí Phèo là truyện ngắn mang giá trị nhân đạo sâu sắc khi hướng đến đồng cảm, trân trọng giá trị bên trong tâm hồn của những con người bất hạnh, nạn nhân của xã hội.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 5
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 5

6


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 6

Giữa những bộn bề phức tạp của buổi chợ phiên văn chương , giữa những náo nhiệt đông đúc của gian hàng hiện thực phê phán, Nam Cao được nhận là một chủ cửa hàng khác đặc biệt với tấm lòng nhân đạo và tình thương dành cho những người nông dân trước cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhà văn đã đưa người đọc đi sâu khám phá cái đẹp ẩn sâu bên trong của những số phận bất hạnh, những con người “cùng hơn cả dân cùng”. Tiêu biểu cho cuộc hành trình gian truân vất vả ấy là truyện ngắn “Chí Phèo” . Đọc tác phẩm ta sẽ thấy rõ được tư tưởng nhân đạo cao cả cùng tình thương và nam cao dành cho nhân vật của mình.

Quả không sai khi nói rằng, mỗi tác phẩm văn học là kết quả được nhào nặn từ đời sống. Nếu tác phẩm văn học chỉ là sản phẩm của hư cấu và tưởng tượng mà không mang hơi thở đời sống thì sẽ không chuyển được cảm hứng đến với bạn đọc, văn học bao giờ cũng là chuyện cuộc đời mang trong mình sứ mệnh cao cả của một nhà văn khi sáng tạo nghệ thuật. Nam Cao đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại thông qua các tác phẩm của mình, đồng thời tìm ra cho mình một lối đi riêng khác hẳn với những nhà văn cùng thời đầu. Đọc tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao ta sẽ thấy rõ được điều đó. Đây là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Nam cao được viết năm 1941. Đầu tác phẩm có tên “cái lò gạch cũ”, sau đó Nhà xuất bản tự ý đổi thành “đôi lứa xứng đôi”, đến năm 1946 nhà văn quyết định đặt tên tác phẩm là “Chí Phèo”.

Không giống như “chị Dậu”, trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, anh Pha trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan phải chịu nỗi đau về mặt vật chất bị cái nghèo đầy đọa, nhưng vẫn giữ được danh dự nhân phẩm, Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao lại phải chịu nỗi đau đớn về mặt tinh thần bị mọi người đẩy ra khỏi xã hội, cự tuyệt quyền cơ bản nhất đó là quyền làm người. Đọc tác phẩm chúng ta sẽ không khỏi xót xa với những nỗi khổ đau Chí Phèo phải chịu đựng, để từ đó chúng ta cảm nhận được tấm lòng nhân đạo, sâu sắc và Nam cao dành cho Chí Phèo từ đó cứu rỗi linh hồn đầy tội lỗi, rồi đây khao khát được làm người nơi Chí Phèo.

Cả cuộc đời Chí Phèo vốn là một con số 0 tròn trĩnh, không cha, không mẹ, không nhà cửa, không tấc đất cắm dùi, ngay từ khi sinh ra chí đã bị cha mẹ ruồng bỏ quân hắn vào cái váy đụp rách bỏ ở cái lò gạch cũ vắng người qua lại, may mắn thay một anh thả ông luôn đi qua nhìn thấy hắn từ đó chị lớn lên trong tình thương và sự cưu mang của cả dân làng Vũ Đại. Năm 18 tuổi Chí làm canh điền cho nhà lý kiến. Khi đó hắn là một anh nông dân hiền lành, chăm chỉ, hắn cũng đã từng mơ về một ngôi nhà ở đó vợ chồng hạnh phúc bên nhau, vợ dệt vải nuôi tằm, chồng cuốc mướn cày thuê, rồi chúng bỏ một con lợn ra nuôi khá giả thì mua dăm ba sào ruộng. Nhưng có ai ngờ thân phận nô lệ đâu để cho hắn yên khi thói dâm dục của bà 3 ý kiến nổi lên cùng thói ghen tuông của lão cũng là lúc Chí Phèo bị đẩy vào tù để rồi 7, 8 năm sau ra tù chí đã trở thành con quỷ dữ của cả làng vũ đại bị mọi người xa lánh, sợ hãi.

Hắn về lớp này trông khác hẳn không ai nhận ra Chí là ai, cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cao trắng hơn, cái mắt đen lại rất cơn cơn trông đặc như thằng răng đá, hắn mặc cái quần đen, cái áo tay vàng, cái ngực phanh để lộ những hình chạm trổ rồng phượng, cái chân hình một ông tướng cầm trùy trông gớm chết. Không chỉ thay đổi về nhân hình, chí còn thay đổi cả về nhân tính, hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy hắn ngồi uống rượu với thịt chó từ trưa đến chiều say là hắn chửi. Hắn chửi trời, chửi đất, chửi cả dân làng Vũ Đại nhưng chẳng ai đáp lại tức mình hắn chỉ đứa chết mẹ nào đẻ ra thằng Chí Phèo. Không phải ngẫu nhiên mà mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã bắt đầu bằng tiếng chửi của chí, tiếng chửi của chí thể hiện sự khát khao muốn được giao hòa, giao cảm với con người với cuộc đời. Nhưng đáp lại tiếng chửi của chí chỉ là tiếng của ba con chó giữ, là con người vậy mà chỉ có 3 con chó dữ đáp lại tiếng hắn. Vậy chẳng khác nào hắn đã bị đánh tụt từ hàng con người xuống hàng con vật, chính trong cơn say ấy ý chí đã bị Bá Kiến lợi dụng biến hắn trở thành tay sai đắc lực của lão từ khi hắn đã trở thành con quỷ dữ của làng vũ đại, phá nát biết bao gia đình.

Đọc tác phẩm ta cứ tưởng rằng cuộc đời của chí sẽ trượt dài trên con đường của sự tha hóa và biến chất, nhưng với tấm lòng nhân đạo cao cả, Nam Cao không hề trách giận Chí Phèo và ngược lại ngòi bút của ông hướng về nhân vật vẫn tràn đầy yêu thương. Ông đã cho Chí Phèo gặp Thị Nở để rồi cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên nhưng định mệnh này đã khơi gợi tính người nơi Chí Phèo, với lại ở Chí Phèo khát khao được làm người, ban đầu chí phèo gặp Thị Nở chỉ bằng bản tính thú vật của một gã say rượu nhưng nào ngờ Thị Nở người đàn bà xấu như ma chê quỷ hờn ấy lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã nhói vào trái tim đã cằn cỗi, u mê của Chí Phèo để đưa Chí Phèo trở về thoát khỏi tội lỗi. Sau đêm ăn nằm với Thị Nở, lần đầu tiên sau những cơn say Chí hoàn toàn tỉnh táo.

Hắn cảm thấy như mặt trời đã lên cao và nắng vàng rực rỡ, người hắn nghe thấy tiếng của những người đi chợ về, tiếng của anh thuyền chài có mái chèo đuổi cá . Những âm thanh này hôm nào mà chẳng có nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy . Những âm thanh quen thuộc bỗng chắp cánh cho ước mơ ngày xưa quay về để Chí Phèo chìm đắm trong hồi tưởng với ước mơ về một căn nhà nhỏ, một gia đình hạnh phúc. Đọc đến đây ta bỗng nhớ đến những tiếng sáo trong ‘Vợ Chồng A Phủ” của Tô Hoài . Chính tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân đã khiến khao khát sống với Mị được trỗi dậy mãnh liệt… Tỉnh bơ trong dòng suy nghĩ Chí như thấy được tuổi già ốm đau bệnh tật nhưng sợ nhất vẫn là sự cô độc. May mà Thị Nở bước vào không thì Thị khóc lên được mất. Thị cắp một cái rổ bên trong có đựng một nồi gì đậy vung, đó chính là nồi cháo hành thơm phức.

Thị Nở múc cháo ra bát cho Chí Phèo cầm lấy bát cháo hành trên tay Chí Phèo húp thật ngon lành, hắn chợt nhận ra cháo hành rất ngon và đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà cho mà không cần phải cướp giật. Chí Phèo cảm thấy yêu Thị Nở và mong muốn Thị sẽ là cây cầu đưa Chí Phèo trở về làm người. Đã có ý kiến nhận xét Thị Nở chính là vị thiên sứ mà Nam Cao phải đến để thức tỉnh Chí Phèo. Thiên sứ ấy không có đôi cánh của thiên thần nhưng lại có bàn tay ấm áp như ngọn gió, ngọn lửa, ngọn gió thổi bay lớp bụi u mê nơi trái tim còn ngọn lửa thiêu đốt lớp vỏ quỷ dữ cho Chí Phèo trở về làm con người lương thiện. Cùng với đôi bàn tay ấm áp, bát cháo hành cũng là một yếu tố quan trọng lay tỉnh Chí Phèo, nó như một liều thuốc giải độc vượt giữa lớp men rượu đánh thức tâm hồn đầy tội lỗi của Chí Phèo, thế nhưng cuộc đời thật trớ trêu khi mà xã hội còn đầy rẫy những định kiến thì khao khát trở về với cuộc sống của mỗi con người thực sự là rất khó khăn.

Thị Nở cùng tình yêu của thị giống như một cây cầu vồng lung linh bảy sắc, xuất hiện rồi biến mất sau cơn mưa, chí chưa bước chân lên cầu thì cây cầu đã rút ván. Những lời cay độc của bà cô mà Thị Nở trút lên đầu chí phèo đã khiến hắn hiểu ra mọi chuyện. Chỉ trong chốc lát mọi hi vọng mọi ước mơ đều vỡ vụn quá đau khổ Chí Phèo lại tìm đến rượu nhưng rượu đã không còn đủ sức để làm mờ lý trí, rồi hắn ôm mặt khóc rưng rức. Phẫn uất , Chí Phèo xách dao đi trả thù miệng thì nói là đến nhà Thị nở để đâm chết con đĩ Nở, con khọm già. Nhưng chân lại đưa hắn đến nhà bá kiến .Có lẽ lúc này hơn ai hết Chí Phèo đã hiểu ai mới là kẻ đã xóa tên mình ra khỏi cuốn sổ của những con người lương thiện trong cuộc đời tăm tối của Chí Phèo.

Giây phút hắn vung dao lên để kết liễu tên cáo già Bá Kiến là những giây phút rực rỡ nhất . Chí cũng đã phải quyên sinh , một cái chết quằn quại đau đớn trên vũng máu tươi trở về làm người. Câu hỏi của Chí “ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất đi những vết mảnh trai trên mặt này” vút lên đầy đau đớn đánh thẳng vào bộ mặt xã hội đầy bất công lúc mấy giờ để lại nhiều trăn trở cho bạn đọc. Có lẽ Nam Cao chưa thực sự tìm ra lối thoát cho nhân vật của mình nhưng cái chết của Chí Phèo đã thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Nhà văn để nhân vật của mình chết đi là mong muốn chí phèo có thể giữ lại chút lương thiện cuối cùng của mình.

Với cách xây dựng nhân vật độc đáo, ngôn ngữ sắc lạnh giàu tính khẩu ngữ, câu văn giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm đã cho ta thấy được cuộc đời đầy đau khổ của những người nông dân trước cách mạng tháng 8 phải chịu và sự đồng cảm yêu thương trân trọng mà tác giả dành cho họ.

Chí Phèo đã chết nhưng vẫn còn đó những câu hỏi đầy ai oán không có lời giải đáp, cùng với chị Dậu, anh Pha, Chí Phèo đã khẳng định phải có một cuộc cách mạng để thay đổi cuộc sống lúc bấy giờ. Đồng thời những nhân vật ấy nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng hơn những hạnh phúc mà mình đang có, đồng thời phải biết cống hiến để xây dựng cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn./.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 6
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 6

7


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 7

Nam Cao được mệnh danh là nhà văn có tấm lòng nhân đạo lớn. Chính ông là người đã mang đến cho văn học Việt Nam một cái nhìn rõ nét hơn về con người. Trong đó có truyện ngắn Chí Phèo, đã làm nổi bật lên một ngòi bút luôn tha thiết tình yêu dành cho con người.

Giá trị nhân đạo được xem là giá trị cơ bản nhất của tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn dành cho người dân và cuộc sống.Luôn biết cách nâng niu, trân trọng những giá trị của họ. Bảo vệ họ bằng lẽ phải và lên án những điều xấu xa. Trong tác phẩm Chí Phèo của mình, Nam Cao đã góp một tiếng nói nhân đạo sâu sắc, tình cảm gắn liền với số phận bi thương của họ, mở ra cho họ một cách suy nghĩ khác và tha thiết trân trọng giá trị bên trong của họ.

Ở Chí Phèo, lúc trước khi trở về thành kẻ lưu manh. Hắn từng là một anh nông dân có trái tim lương thiện và ấm áp. Một người từng chỉ có ước mơ nho nhỏ “chồng cày cuốc mướn” và “vợ dệt vải” Đó là anh nông dân giàu lòng tự trọng, cái gì không thích thì hắn khinh, biết phân biệt giữa tình yêu cao thượng và tình cảm giác nhục dục thấp hèn. Những lần bị bà ba gọi lên bóp chân cho, Chí Phèo chỉ cảm thấy nhục chứ đâu có yêu đương gì hắn đâu..

Nhưng, sau đó, Chí đã biến thành một con người khác, Bá Kiến, một tay sai đắc lực của chế độ thực dân phong kiến đã khiến Chí trở thành một người khác. Một kẻ lưu manh theo đúng nghĩa. Chí không còn là một anh nông dân hiền lành như đất, nơi ấy đã khiến trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” . Qua đó là thái độ lên án phê phán gắt gao của Nam Cao dành cho xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Nhấn mạnh sự khốn cùng của con người..

Sau đó, Chí gặp Thị. Một cơn gió mang lại cho Chí giấc mơ năm xưa, con người năm xưa được thức tỉnh bằng bát cháo hành ấm nóng tình người. Chí lần đầu tiên được một người đàn bà cho cái gì đó. Mọi khi hắn toàn cướp giật, dọa nạt, Hắn thấy sợ, sợ già, sợ bệnh… và nhất là sợ cô đơn. Hắn khát khao trở lại thành người lương thiện, sự thèm khát lương thiện biết bao… “Thị Nở có thể sống yên ổn với hắn thì sao với người khác lại không thể được” Nam Cao đã nâng cao giá trị của một kẻ lưu manh, để hắn nhận ra số phận của mình. Qua đó khẳng định khát khao được sống làm người chính đáng của họ.

Nhưng, Chí Phèo cuối cùng cũng chết, cái chết như một vòng luẩn quẩn không hồi đáp. Và Chí chỉ còn là con người trên ngưỡng cửa của sự lương thiện. Cái chết Chí Phèo là hồi chuông báo động, mang tới sự lên tiếng vì chế độ thực dân đã đàn áp và tha hóa con người. Nam Cao không hề có ý định bôi nhọ người nông dân , trái lại ông đã khẳng định cao giá trị nhân phẩm của họ. Điều đó chứng tỏ một con mắt luôn biết nhìn đời nhìn người rất mực sâu sắc của ông.

Nam Cao thực là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy. Những gì ông viết đều chắt từ bầu huyết quản, trái tim dành cho con người. Chí phèo xứng đáng là một tác phẩm mang giá trị nhân đạo sâu sắc, khi thời gian có qua đi, nhìn lại ta vẫn nhìn thấy một chí phèo ngật ngưỡng bước ra. Khẳng định giá trị một tác phẩm chân chính và nhân đạo sâu sắc, độc đáo.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 7
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 7

8


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 8

Tác phẩm Chí Phèo khép lại ở trang cuối cùng với một cảnh tượng đầy hãi hùng hai xác chết của hai con người – sinh vật. Cả hai đều làm người nhưng không phải là người: Bá Kiến và Chí Phèo. Máu me loang lỗ, lênh láng khắp hai cái xác khiến chúng ta giật mình tự hỏi và hỏi Nam Cao: Đâu là hiện thực? Đâu là nhân đạo?

Toàn truyện Chí Phèo là một sức căng. Nam Cao đã đưa người đọc lạc vào cung bậc khác nhau của những sự căng thẳng về thần kinh bởi nhưng câu chửi choang choang của Chí, bởi những cơn nốc rượu như nước, bởi những lần rạch mặt ăn vạ ghê rợn. Tưởng thế đã là đáng nhớ lắm, Nam Cao còn bất ngờ đưa tay, lia ngòi bút một lần cuối để kết thúc bản nhạc của mình, cả trang sách như rung lên khi Chí vung dao chém vào người Bá Kiến và tự kết thúc cuộc đời mình.

Khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan… ra đời, mấy ai còn có thể tưởng tượng tới một cảnh đời nào bần cùng hơn, bế tắc hơn, tủi cực hơn thế. Tưởng như cuộc sống chị Dậu và anh Pha đã là tột cùng của nỗi khổ đau ở đời. Nhưng cùng hơn cả những con người bần cùng đó, vẫn có Chí Phèo đã bước ra từ trang sách của Nam Cao, là hiện thân đầy đủ của “những gì là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa: bị giày đạp, bị cào xé, bị hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình. Chị Dậu, anh Pha dù có khổ mấy vẫn được công nhận là người. Còn Chí, con người hiền lành, chất phác qua lần vào tù ra tội đã bán cả nhân tính, nhân hình để trở thành con quỷ dữ làng Vũ Đại.

Thoát được cửa tù con, Chí Phèo lại ra vào cửa tù lớn và lần này thì mãi mãi, Chí bị khóa chặt trong cuộc đời thú vật mà chế độ “ban” cho. Từng ấy bất hạnh đáng được để cho nhân vật nổi loạn lắm, nhưng ngòi bút Nam Cao tỉnh táo và sắc sảo, đủ điều kiện cùng nhân vật đi đến cuối truyện. Mọi cái được nâng lên với mức độ cao hơn khi Chí Phèo với ý định đến nhà thị Nở, quen chân thuận đường lại đến nhà Bá Kiến; vô tình một cách có ý thức, Nam Cao cho nhân vật của mình lại đi lệch đường, nhưng đúng hướng, đúng cái đích mà Nam Cao vạch ra cho nhân vật của mình. Cái chết của Bá Kiến đầy bất ngờ, không ai nghĩ rằng con cáo già như Bá Kiến lại có thể chết nhanh gọn đến thế. Với Chí Phèo thì không có gì là không thể bởi sự liều lĩnh của hắn đã được tôi luyện từ lâu rồi trong xã hội cũ. Nam Cao luôn đi tìm nhân phẩm và tình thương yêu chân thật ở những người lao động cùng khổ, bị giày xéo và khinh bỉ. Đây cũng là vấn đề “đôi mắt” mà Nam Cao luôn hướng tới, là đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực và nhân đạo của Nam Cao.

“Trong mảng sáng tác về nông dân của Nam Cao, người đọc thường gặp những nhân vật xấu xí, thô lỗ cục cằn và những chuyện nhục nhã của họ. Chính vì thế mà một số người tỏ ra hoài nghi giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nam Cao. Có biết đâu rằng, chính với đám nhân vật “có vấn đề” đó mà cái nhìn hiện thực và quan điểm nhân đạo của nhà văn mới thể hiện rõ, đầy đủ nhất (Nguyễn Hoành Khung). Nam Cao tỏ ra là một cây bút sắc sảo với cái nhìn tinh tế, nhạy cảm trên bình diện xung đột giai cấp. Với Bá Kiến, Nam Cao chứng tỏ mình hiểu rất sâu xa bản chất của giai cấp phong kiến địa chủ. Với Chí Phèo, Nam Cao cũng chứng tỏ một tâm hồn biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa khơi để tìm ra một điển hình nhất của một hạng người cùng hơn cả dân cùng, chúng ta quen gọi đó là hình tượng nhân vật “lưu manh hóa”.

Qua cách xây dựng những xung đột, mâu thuẫn của truyện. Nam Cao đã chứng tỏ một cảnh quan hiện thực hết sức rõ ràng, mãnh liệt. Ông thấy rõ rằng mối xung đột, mân thuẫn giai cấp ở nông dân – địa chủ, nhất là nông dân đã chín muồi đã đến mức sâu sắc và không gì có thể xoa dịu. Nam Cao xây dựng mối quan hệ Bá Kiến – Chí Phèo trở nên hết sức gay gắt, mối tình dang dở với Thị Nở cũng là cách đổ thêm dầu vào lửa, biến cơn say, cơn buồn, cơn thất tình ở Chí Phèo thành lòng căm hận, tức tối, quyết đến nhà Thị Nở để trả thù. Quy luật lại không phải thế, quy luật đã kéo Chí đi nhưng là đến nhà Bá Kiến, chứ không phải ai khác. Kẻ đáng giết Bá Kiến.

Với cái kết thúc bất ngờ dữ dội của thiên truyện ngắn, Nam Cao đã cho chúng ta thấy kết quả tất yếu sẽ xảy ra, điều đó không thể tránh khỏi. Giai cấp thống trị có thể khôn ngoan, giảo quyệt, mánh khóe, có thể đàn áp, làm lu mờ cả ý thức của người dân thì vẫn còn âm ỉ trong người dân ngọn lửa của lòng căm thù, căm ghét những kẻ bóc lột mình, ở Chí, cho dù tâm trí tê liệt, mọi cái bị “xóa sổ” trong trí nhớ của Chí thì tận trong cơn say, hắn vẫn như mơ màng nhận thấy một điều gì. Đoạn Chí quyết đến nhà Thị Nở để trả thù là biểu hiện bề ngoài, trong tiềm thức chỉ có Bá Kiến, sâu xa nhất trong quá khứ là Bá Kiến, Thị Nở chỉ là hiện tại. Mọi bức bối, uất ức dồn đến lâu ngày, càng dồn nén xuống thì ắt sẽ có ngày bùng nổ. Sự chịu đựng quá tải đã làm bừng tỉnh cơn dại trong Chí, anh quyết đi trả thù đời, đi “đòi nợ”.

Ngòi bút của Nam Cao phải vững vàng lắm trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo thì mới có những trang viết rành rọt, tỉnh táo đến như vậy. Ông tin rằng trong huyết quản của Chí Phèo vẫn chưa cạn hết dòng máu của người nông dân lao động nên đã cho Chí xách dao đến nhà Bá Kiến, không đòi rượu, đòi tiền mà để đòi lại bộ mặt và tâm hồn mình đã bị phá nát, tước đoạt. Chỉ có lòng nhân đạo cao cả mới có thể nhìn thấy được ở con người quái dị như Chí Phèo một lòng thiết tha ham sống. Chỉ có Nam Cao mới thấu hiểu sự khao khát được trở lại làm người của Chí, đó là khi ông miêu tả “tiếng đời thường” thông qua sự cảm thụ của Chí.

Năm ngày liền Chí hiền khô, thậm chí không uống một ngụm rượu. Đó là nhờ có Thị Nở đà mang tình yêu thương đến với Chí, mặc dù đó là thứ tình cảm dở hơi, không ý thức. Chi tiết bát cháo hành nóng hổi đã sưởi ấm lại con người Chí, kéo hắn về với cuộc đời. Khốn nạn thay, xã hội phong kiến đương thời cũng không để Chí yên thân mà hưởng niềm hạnh phúc nhỏ bé đó, bà cô của Thị Nở cũng chính là một thứ công cụ của xã hội đầy định kiến, ngăn cản Thị Nở trở lại với Chí. Khi bàn tay nhân đạo đã rụt lại, Chí Phèo lại trở về với con người hàng ngày của mình: say rượu, hung dữ. Nhưng chính quãng thời gian ít ỏi được sống bên Thị Nở đã tác động vào suy nghĩ của Chí.

Lúc này, anh có ý thức sống cho chính mình hơn, đòi hỏi cho mình một lẽ sống, một sự công bằng đã bị tước đoạt. Giết chết Bá Kiến mới chỉ đạt được một nửa công việc, Chí Phèo hoàn thành nốt “công việc” còn lại bằng cách tự giết luôn cả mình. Nếu còn sống, Chí Phèo vẫn tiếp tục cuộc đời quỷ dữ của mình, vẫn phải đối chọi với con trai của Bá Kiến. Ta còn nhớ Nam Cao đã cho một nhân vật của mình ăn bả chó tự tử, đó là lão Hạc. Nay ta lại thấy Chí Phèo tự kết liễu mình. Phải chăng, với suy nghĩ riêng của Nam Cao, những con người quá khốn khổ, quá cùng quẫn thì chỉ có cái chết mới giải thoát được tất cả? Chí Phèo phải chết mới chấm dứt cuộc đời nhục nhã của mình để hóa kiếp sang một con người khác tốt đẹp hơn?

Chí Phèo chỉ ao ước trở lại làm một người lao động bình thường với mối tình Thị Nở, nhưng không được. Cách xây dựng nhân vật của Nam Cao thật độc đáo. Chí Phèo vừa là một gã mất trí, công cụ nguy hiểm trong tay bọn thống trị, lại vừa là nô lệ thức tỉnh, trở thành con người có đầu óc sáng suốt nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có ý nghĩa khái quát sâu sắc vượt quá mức thường ngày, vượt quá tầm khôn ngoan lọc lõi của Bá Kiến: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này?” Nỗi ray rứt rất con người, đầy nhân văn này lại được thốt ra từ miệng một kẻ chuyên uống rượu say mềm. Bá Kiến cũng bất ngờ, mất cảnh giác nên Chí đã dễ dàng sát hại. Diễn biến rất hợp lí, từng chi tiết nhỏ đều rất tôn trọng “chủ nghĩa hiện thực”.

Chí Phèo ngay sau đó cũng tự kết liễu đời mình bởi trong giây phút điên cuồng đó, hắn đã tỉnh táo hơn bao giờ hết và ý thức được mọi điều mình làm. Không tự giết, Chí Phèo cũng sẽ phải chết vì con trai Bá Kiên còn đó, vì bao đối tượng khác luôn lăm le muốn xóa sổ hắn. Giết được Bá Kiến, Chí Phèo như lấy lại được thanh danh cho mình, như đã hài lòng về bản thân, cảm thấy không cần phải sống để đòi nợ ai nữa. Hắn không chết cũng sẽ không còn ai cho hắn tiền uống rượu, không còn Bá Kiến cho hắn rạch mặt ăn vạ nên hắn chết. Có những cái chết bế tắc, nhưng cái chết của Chí Phèo lại là bước mở đầu cho sự sống, cho sự tháo cũi xổ lồng, giải thoát cho chính mình.

Viết nên những trang sách ấy, Nam Cao vẫn chưa ý thức đầy đủ về sức mạnh vĩ đại của quần chúng lao động, sức công phá mãnh liệt của những kiếp người nô lệ, nhưng ông đã lờ mờ nhận thấy một sức sống tiềm tàng trong con người lao động bị áp bức. Đằng sau sự dàm chém hài hùng kia có cái gì như là sự vật vã tuyệt vọng đang cố vùng vầy để thoát khỏi nó. Bi kịch của Chí không phải là sự nghèo hèn vật chất, thứ vị xã hội mà ở chỗ là người mà không được xã hội loài người dung nạp. Sống trong sự thờ ơ lẫn sợ hãi, xa lánh của mọi người càng làm cho Chí cùng thêm, liều thêm cho đến khi ý thức được điều đó thì hắn chỉ còn biết tìm đến cái chết.

Thực ra, trong chuỗi ngày dài trong đời hắn, hắn không hề biết mình đang sống, hắn chưa biết đến cái chết nghĩa là hắn chưa sống. Kết thúc truyện hắn đã tìm đến cái chết, cũng là lúc hắn nhận biết được cuộc sống thú vật của hắn. Còn Bá Kiến, sẽ còn Chí Phèo. Hết Bá Kiến, Chí Phèo cũng không tồn tại. Ở đây ta còn thấy một sự thâm thúy sâu xa của Nam Cao khi cho cả hai nhân vật tồn tại song song và có vai trò tác động lẫn nhau. Nếu không phải là Bá Kiến thì anh Chí ngày xưa chưa hẳn đã là Chí Phèo bây giờ. Bởi ở Bá Kiến là cả sự khôn ngoan lọc lừa, một kẻ biết ném đá giấu tay.

Nam Cao có lần đã nói: Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ kiếp lầm than. Đó là lời của Điền (Trăng sáng), nhưng cũng là nỗi băn khoăn trong cuộc đời cầm bút của Nam Cao. Ngòi bút của ông hướng về người dân lao động nghèo khổ nhiều khi là những con người xấu xí như Chí Phèo, Thị Nở… Ông cố tình đưa cái khuôn mặt rách nát của Chí hay khuôn mặt kì dị của Thị vào trang viết bởi chỉ với nhân vật như thế, Nam Cao mới tố cáo hết sự tàn bạo của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ tột cùng của người nô lệ.

Trong Chí Phèo,Nam Cao đã tập trung xoáy sâu và làm nổi bật lên mâu thuẫn xã hội cơ bản ở nông thôn: đó là mâu thuẫn cực độ giữa người dân lao động bị I áp bức và bọn thống trị, địa chủ chuyên bóc lột. Kết cục bi thảm của truyện chính là kết quả tất yếu, không tránh khỏi mâu thuẫn đó. Nam Cao rất tôn trọng bút pháp hiện thực, vì vậy, khi viết ông không ngần ngại đưa vào truyện những chi tiết trần tục như việc tả Chí Phèo và Thị Nở ở đêm trăng. Cả hai con người gàn dở ấy cũng khao khát yêu đương, cũng có những ham muốn rất con người, nếu ngòi bút Nam Cao không chân thực thì chúng ta không thể thấy hết điều đó. Càng hiện thực, càng cho chúng ta thấy một Nam Cao đầy lòng vị tha, nhân ái, một tấm lòng nhân đạo cao cả.

Bi kịch ở cuối truyện là sự bứt phá, tự giải phóng cho nhân vật. Nam Cao lồng cả tình cảm của mình vào để gián tiếp bộc lộ lòng căm thù sâu sắc của mình đối với chế độ và sự yêu thương, trân trọng với giai cấp nông dân. Bá Kiến chết đi là mong muốn của sự kết thúc một chế độ đen tối bất công. Chí Phèo chết đi là cách duy nhất Nam Cao hóa kiếp cho loài người đau khổ, chỉ có cái chết mới giải thoát được cho họ. Cái nhìn của Nam Cao tuy hơi cực đoan, bế tắc song nó hợp với logic của truyện ngắn. Khi cái xấu xa đã ăn sâu vào thành tính cách, phẩm chất của con người thì không còn cách nào thay đổi được, chỉ chết đi mới rủ bỏ được tất cả. Tìm đến cái chết, nghĩa là Chí Phèo đang tìm kiếm sự sống, một cuộc sống thực sự.

Truyện ngắn Chí Phèo đã đánh dấu một sự nghiệp sáng tác lớn của Nam Cao. Ông hiểu rằng phải là hiện thực, văn học mới có ý nghĩa tố cáo sâu sắc chế độ, chỉ có hiện thực mới nhìn thấy hết nỗi đau khổ, dằn vặt trong người dân lao động, và chỉ có hiện thực mới làm nổi bật tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn. Hành động quyết liệt bất ngờ của Chí Phèo trong truyện là một diễn biến hợp lí, thể hiện sự “tháo cũi xổ lồng” của người dân. Tuy nhiên Nam Cao mới chỉ nhìn thấy sự phản kháng ở một con người chứ chưa có ý thức về sức mạnh tiềm tàng trong quần chúng. Nam Cao mới nhìn vào Bá Kiến chứ chưa nhìn vào một hệ thống giai cấp thống trị ở khắp đất nước Việt Nam thuộc địa.

Qua truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã chứng tỏ là một cây viết hiện thực sắc sảo, là “thư kí trung thành của thời đại”, một tấm lòng nhân ái, rộng mở bị ám ảnh bởi số phận đau khổ của kiếp người nô lệ. Chính mảnh đất nơi ông sinh ra đã tác động, ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp sáng tác của ông.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 8
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 8

9


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 9

Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 Nam Cao là người đến sau, trước đó đã có những cây bút như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan.Nhưng có lẽ với Chí Phèo, Nam Cao đã đem lại cho chúng ta những ấn tượng mạnh mẽ không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt ,bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội tàn ác đã chà đạp lên nhân phẩm cuả con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.

Căm ghét xã hôi thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông,yêu thương con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45. Tuy nhiên,trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó là một hiện thực phổ biến lúc bấy giờ.

Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí không cò được là con người mà trở thành con “quỉ dữ”, do những âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một thế lực thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái chan chứa yêu thương, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn cùng thời.

Phải nói rằng trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẫm thấu và thống nhất với nhau khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằn ngoài quy luật ấy. Đi vào tác phẩm mở đầu là cảnh Chí Phèo ngất ngưỡng trên đường vừa đi vừa chửi, từ trời đến người đã sinh ra hắn, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi.

Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ gây gổ v.v.. trong đó Chí Phèo hiện lên như một hiện tượng điển hình. Ta hãy lắng nghe nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già ; nó không phải là mặt người : nó là một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?.

Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nưa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời …..Hắn đâu biết hắn đã phá biết bao cơ nghiệp, đập bao cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện …Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn …” Đoạn văn chất chứ bao nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn có được cuộc sống của một con người. Những năng lực nhận biết vốn có của một con người hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách.

Chí Phèo đã bị phá hủy nhân hình lẫn nhân tính như thế là bởi do đâu? Chúng ta thấy nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa đó mà dường như ông thiên về lí giải và phân tích đâu là cái cội nguồn sâu xa dẫn đến bi kịch đó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá kiến, về nhà tù thực dân, về bà cô Thị nở, về dư luận xã hội …Tong hàng loạt mối liên kết ấy, chúng ta dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo từ một thanh niên hiền lành như cục đất hóa thành con quỷ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thủa lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương ,đặc biệt khi lớn lên chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn. Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già “ khôn rốc đời”, “kẻ ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “ mềm nắn rắn buông”,” Hay ngấm ngầm đẫy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn.

Hay đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng rồi vứt lại trả năm hào vì thương anh túng quá!”. Chính hắn đã lập mưu đẫy Chí Phèo vào tù và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có chí Phèo, Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà còn là phương tiện tối ưu để thống trị: “Không có mấy thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò”, Chính Bá Kiến đã rút ra kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy. Là một kẻ nham hiểm ,nhẫn tâm nhưng Bá Kiến lại hiện ra bên ngoài là một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn hắn bằng cặp mắt “kính cẩn” …

Vì thế mà hắn lường gạt không biết bao nhiêu người dân chất phát lương thiện. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự bị biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm như một nhân vật điển hình cho một bộ phận của giai cấp thống trị. Cùng với hắn là Lí Cường, Chánh Tổng, Đội Tảo, Bát Tùng …chính chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam. …như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện.

Ra khởi tù, hắn trở làng với cái vẻ hung đồ, ương ngạnh được học từ đó. Với bấy nhiêu thôi cũng đã quá đủ để ta cảm nhận. Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lí và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn nhưng chất chứa bên trong biết bai nỗi niềm quằn quại,đau đớn trước thân phận của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực đó là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và dánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gửi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật tha hóa đến tận cùng.

Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của Thị Nở có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỷ hờn, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tăm tối của tâm hồn Chí Phèo, làm gợi dậy tính người ở nơi Chí Phèo. Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã cảm nhận được ánh sáng, âm thanh của cuộc đời – tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chèo gõ mái gọi cá, tiếng lao xao của của người đi chợ bán vải …

Đó là những âm thanh quen thuộc ngày nào chả có nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn, trong cái phút tỉnh táo ấy Chí Phèo như đã trông thấy tuổi già, đói rét và cô độc – cái này còn sợ hơn cả ốm đau. Cũng may Thị Nở mang bát cháo tới, nhìn bát cháo hành bốc khói mà lòng Chí xao xuyến bâng khuâng: Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền! “Hắn thèm lương thiện – Hắn khao khát làm hòa với mọi người “… Từ một con quỷ dữ, nhờ Thị Nở, nói đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí … cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào! Bằng chi tiết này, Nhà văn Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ.

Thế nhưng đau đớn thay, rốt cuộc cái mơ ước nhỏ nhoi được làm người lương thiện đó của Chí không đến được với Chí – Ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí – Chí hiểu mình không còn trở về với cuộc sống của cộng đồng lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người vĩnh viễn và không trả lại .Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.

Cái chết của Chí là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đao, và cũng là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết: Hãy yêu thương con người, Hãy cứu lấy con người. Đó là tư tưởng và tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo sâu sắc mà chúng ta cảm nhận từ những trang sách của nhà văn Nam Cao.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 9
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 9

10


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 10

Nhắc đến Nam Cao, người ta nhớ đến một ngòi bút hiện thực phê phán xuất sắc của văn học Việt Nam những năm trước và sau Cách mạng tháng Tám. Đọc văn Nam Cao, đôi lúc người ta không khỏi rùng mình bởi cái sắc lạnh trong ngôn ngữ, trong miêu tả, trong cách nhìn nhận sự việc. Nhưng đằng sau đó lại luôn ẩn chứa một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, xót thương con người, xót thương số phận từ đó mơ ước về một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. ông như chiếc phích nước nóng đã được người đời mệnh danh, ngoài lạnh, mà trong thì luôn ấm nóng tình người. Đọc “Chí Phèo”, tác phẩm thực sự đánh dấu sự nghiệp văn học và định hướng sáng tác của nhà văn, dõi theo cuộc đời và số phận của các nhân vật trong chuyện, ta cảm nhận được một cách thật sâu sắc tấm lòng nhân đạo cao cả ấy.

Nhân đạo là đạo đức thể hiện ở sự thương yêu, quí trọng và bảo vệ con người. Giá trị nhân đạo trong một tác phẩm văn học thường thể hiện ở việc tác phẩm ấy quan tấm như thế nào đến vấn đề con người? Nó ngợi ca gì? Phê phán gì? Thể hiện tình cảm thương yêu, quí trọng con người, hướng tới việc phản ánh ước mơ, nguyện vọng của con người ra sao? Nói tóm lại, một tác phẩm nhân đạo là một tác phẩm hướng tới, đề cao, trần trọng, bảo vệ những giá trị thuộc về con người, xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. ớ mỗi thời kì khác nhau, về mặt bản chất, chủ nghĩa nhân đạo không có gì thay đổi nhưng có nhiều những biểu hiện không giống nhau.

Nếu như trong văn học dân gian, nhân đạo là phát hiện ra vẻ đẹp con người, đề cao và ca ngợi người dân lao động cùng những ước mơ, khát vọng của họ thì trong văn học thời chiến, nhân đạo còn thể hiện ở thái độ lến án, tố cáo, chống lại kẻ thù. Thời bình, nhân đạo là quan tâm đến đời sống thường ngày, không xa lạ, hoa mĩ mà gần gũi, chân thực của con người, hiểu và cảm thông cho những bi kịch do thời đại mang lại của họ. Là một tác phẩm ra đời trong thời kì trước Cách mạng tháng Tám, khi dân tộc ta còn đang chìm trong “đêm trường nô lệ”, cuộc sống nhân dân khổ cực, tối tăm, bế tắc, “Chí Phèo” của Nam Cao đã diễn tả sâu sắc bi kịch của người nông dân trên con đường bị bần cùng hoá, bị tha hoá cả về nhân hình và nhân tính từ đó lớn tiếng phê phán và tố cáo xã hội sâu sắc.

Trước hết, tác phẩm dựng lên một bức tranh hiện thực về cuộc đời và số phận nhân vật bất hạnh. Tất cả những người nông dân trong tác phẩm đều là những người bất hạnh. Bà cô Thị Nở khổ vì cảnh “gái già”, không chồng, không con, o ép mình trong những định kiến xã hội. Thị Nở khổ vì có một hình hài không bình thường, thậm chí là dưới mức bình thường, khổ vì là một người đàn bà dở người… Và hơn tất cả, Chí Phèo nổi bật lên là một điển hình cho những nỗi khổ chung của người nông dân trong xã hội ấy. Chí Phèo bất hạnh ngay từ khi sinh ra: Người ta nhặt được hắn trần truồng, tím ngắt trong cái lò gạch bỏ không. Rồi Chí bị chuyền hết từ tay người này sang tay người khác và cuối cùng năm hai mươi tuổi thì trở thành canh điền nhà Bá Kiến.

Ra khỏi cảnh lang thang, Chí lại rơi vào tay một con cáo già nham hiểm. Vì ghen, Bá Kiến đẩy Chí Phèo vào trong nhà tù, bước đầu quá trình lưu manh hoá, biến hình một anh thanh niên trước đó vốn hiền lành như đất thành một con quỹ. Bằng tình thương và lòng nhân đạo sâu sắc của mình, Nam Cao đã phát hiện ra ở nhân vật một thân phận đầy bi kịch. Đầu tiên, đó là bi kịch của một người bị đẩy vào cảnh bần cùng hoá. Chí Phèo cũng từng là một người nông dân có thân phận nghèo hèn như bao người nông dân khác trong làng Vũ Đại. Hắn phải đi ở dợ, đi làm thuê cho nhà giàu để kiếm cớ sinh nhai.

Nhưng nếu như Chị Dậu bị đẩy vào cảnh bị bần cùng hoá đến cảnh phải bán con, bán chó, gia đình không còn gì có thể bán được nhưng vẫn còn có một mái nhà để chui ra chui vào. Anh Pha của Nguyễn Công Hoan bị đẩy từ một người có chút máu mặt trong làng, có ruộng, có vườn trở thành một kẻ vô sản. Bi kịch bần cùng hoá của Chí Phèo còn đau đớn hơn. Chí Phèo bị bần cùng đến mức phải doạ nạt, phải cướp giật, phải đập phá của người ta mới có cái để ăn, mới có nơi để sống. Bi kịch đầu tiên đã đầy đau xót nhưng bi kịch thứ hai còn đau đớn hơn gấp nhiềú lần. Đó là bi kịch của một con người bị tha hoá, biến chất, biến thành con quỉ dữ của làng Vũ Đại.

Từ một người lương thiện, Chí Phèo bị nhà tù thực dân lưu manh hoá. Rồi Bá Kiến, bằng sự nham hiểm của mình hoàn thiện nốt quá trình tha hoá thằng lưu manh ấy thành con quỉ dữ. Một con người mà bị xã hội của mình gạt ra ngoài lề, một người bị cô độc đến tuyệt đối và cách giao tiếp duy nhất có thể là qua tiếng chửi nhưng đáp lại cũng chỉ là mấy con chó, còn dân làng thì “không ai chịu ra Ịời”; Một kẻ mà người ta tránh như tránh một con vật nào đó rất đáng sợ như Chí cũng thật đáng thương. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, Nam Cao còn khiến người ta xót xa hơn cho Chí Phèo bởi hắn làm tất cả những việc đó trong lúc say.

Chí Phèo say tràn từ hết cơn say này sang cơn say khác. Và “hắn say thì hắn làm bất cứ việc gì mà người ta sai hắn làm”, “hắn đã phá đi bao nhiêu cơ nghiệp, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm đổ máu và nước mắt của biết bao người lương thiện”. Hắn trở thành con quỉ dữ trong mắt mọi người. Chí Phèo trở thành nạn nhân của những mưu mô xảo quyệt, thành nạn nhân của chính xã hội ây. Vì hắn say nên hắn gây tội ác. Và cũng chính vì hắn say nên hắn làm tất cả những điều đó một cách vô thức. Hắn trở thành một công cụ trong tay người khác, càng đáng sợ bao nhiêu hắn lại càng đáng thương bấy nhiêu. Ngòi bút của Nam Cao cứ thế, lạnh lùng, miêu tả một cách chân thực mà không bộc lộ một thái độ chủ quan nào nhưng đọc lên người ta vẫn thấy một tâm hồn cũng đang đau đớn, quằn quại trong những bi kịch của chính các nhân vật của mình.

Nhà văn từng quan niệm: “Đôi mắt của người nghệ sĩ hoàn toàn không phải là đôi mắt ráo hoảnh” của phường ích kỉ mà là đôi mắt của tình thương, đôi mắt của lòng nhân đạo”. Và ông đã dùng đôi mắt ấy để phát hiện, cảm thông cho bi kịch của con người. Đằng sau cái thằng Chí Phèo ngật ngưỡng say rượu tưởng chừng chỉ biết rạch mặt ãn vạ, đánh đập, dọa nạt người khác, Nam Cao phát hiện ra vẫn tồn tại tính người, tồn tại cái mà người ta gọi là lương thiện. Phải có một lòng thương yêu và niềm tin sâu sắc vào con người ông mới có thể khám phá ra trong tâm hồn tưởng chừng như đã thành sỏi đá ấy nhịp đập thoi thóp của một trái tim ấm nóng. Thằng Chí Phèo của hiện tại đã từng là một anh Chí nông dân, hiền lành, nhút nhát, bị bà Ba gọi lên bóp chân còn thấy run.

Anh nông dân ấy đã từng sống lương thiện bằng chính sức lao động của mình, cũng đã từng có những ước mơ lương thiện: “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”.. Không ai có thể tin hay nghĩ rằng cop quỉ dữ ấy có thể một lần lột xác trở lại làm người. Vậy mà Nam Cao lại tin điều đó. ông đã để cho một điều kì diệu xảy ra, dù ngắn ngủi, dù bát thường nhưng là một điều kì diệu vĩ đại, điều kì diệu có hể thay đổi một con người. Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở không chỉ đơn giản là một cuộc đụng chạm về xác thịt. Đó chỉ là khởi đầu. Buổi tối bên bờ sống trong cái rười rượi của trăng chỉ làm khơi dậy thứ tình yêu mang tính bản năng con người. Trận ốm lúc nửa đêm mới thực sự bắt đầu cho những dấu hiệu của sự thức tỉnh. Lần đầu tiên, sau bao nhiêu lâu không rõ, Chí Phèo không say. Lần đầu tiên, hắn cảm nhận được những âm thanh của cuộc sống: “Mặt trời đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ.

Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết. (…) Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chẳng có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy..”. Và cũng lần đầu tiên, sau bao ngày chìm trong men say, hắn biết thế nào là buồn. Một người bắt đầu biết suy nghĩ về cuộc sống có nghĩa là cũng đã biết tự chiêm nghiệm về mình. Và hắn đau đớn khi nhận ra rằng: Hắn là một kẻ trắng tay. Đứng ở bên kia dốc cuộc đời, hắn biết mình đã già, “Ngoài bốn mươi tuổi đầu..”.. Dầu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn, rằng những ước mơ lương thiện từng có ở một anh nông dân lương thiện đã không thể nào thực hiện được, dù chỉ là một phần rất nhỏ.

Và rồi, Thị Nở lại sang. Thị sang mang theo cho hắn bát cháo hành, mang cho hắn sự quan tầm chăm sóc chân thành, mang cho hắn tình yêu và từ đó nhen nhóm lại trong hắn giấc mơ được trở lại kiếp người lương thiện. Tình người cùng với hương cháo hành đã dẫn dắt tính người quay lại trong hình hài của một con quỉ dữ, đánh thức khát khao, đánh thức ước mơ, đánh thức niềm mong muôn được trở về với xã hội loài người. Và hắn hi vọng: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muôn làm hoà với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được. Họ sẽ nhận thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại ai. Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”.

Chí Phèo đâu có hoàn toàn đáng sợ như người ta tưởng. Hắn đáng sự chỉ vì bởi ngườỉ ta đã lợi dụng để biến hắn thành như vậy. Bản tính lương thiện vẫn tồn tại trong con người Chí Phèo và giờ đây, khi được một tình người chân thành cảm hoá, nó được khơi dậy thành một khát khao mãnh liệt. Tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn đã khiến ta thâm thía rằng: “ Chao ôi! Đốì với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tà nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”. Nhưng khi lương thiện và tính người trở về thì cũng là lúc bi kịch được đẩy lên đến đỉnh điểm chỉ còn cách giải quyết cuối cùng là cái chết.

Đến đây, khi lương thiện và ý thức về cuộc đời đã quay trở lại, Chí không thể tiếp tục cuộc đời của một con quỉ dữ nhưng cũng không thể trồ lại làm người. Và Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình. Bằng tấm lòng yêu thương cao cả và ngòi bút nghệ thuật đặc sắc của mình, Nam Cao đã diễn tả một cách sâu sắc diễn biến tâm lí của Chí Phèo từ hi vọng, đến thất vọng đau đớn, phẫn uất và cuối cùng là tuyệt vọng. Chí Phèo quằn quại trong vũng máu cũng là quằn quại trong bi kịch của chính mình. Người ta thấy thương xót cho số phận Chí Phèo còn nhiều hơn là ghét, giận.

Yêu thương con người, phát hiện và trân trọng những ước mơ, khát vọng của họ, thể hiện niềm tin vào cái “thiên lương” trong sáng trong tâm hồn con người, Nam Cao cũng lớn tiếng lên án, tố cáo xã hội tàn ác chà đạp lên quyền sống, quyền làm người, quyền hạnh phúc của con người. Lưu manh hoá Chí Phèo là nhà tù thực dân, còn tha hoá và biến hắn thành con quỉ dữ là Bá Kiến. Chế độ thực dân và phong kiến đã cùng nhau thống trị, đẩy người dân vào cảnh “một cổ hai tròng”, không thể nào ngóc đầu lên được. Làng Vũ Đại là mảnh đất “quần ngư tranh thực” mà ở đó người dân chỉ là những miếng mồi béo bở đế bọn cường hào địa chủ tranh giành, cắn xé.

Bá Kiến có hẳn cả một kho kinh nghiệm để thống trị người ta, để biến người ta thành tay sai của mình, để áp bức, bóc lột. Trong khi hắn chiêm nghiêm, tâm đắc với “đường lối” sáng suốt của mình thì biết bao người dân vô tội vẫn tiếp tục bị đẩy vào cảnh bần cùng, tha hoá. Đã có những Binh Chức, Năm Thọ, Chí Phèo, và không biết sẽ còn bao nhiêu những “Chí Phèo con” sẽ ra đời. Cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến ở cuối truyện là kết quả tất yếu của những mâu thuẫn đã được đẩy lên đến cao trào. Nó thể hiện lòng nhân đạo rộng lớn của nhà văn. Chí Phèo chết là một sự giải thoát, còn Bá Kiến chết là một sự trừng phạt. Tuy tất cả chỉ mang tính tự phát và tương lai phía trước vẫn còn mờ mịt, nhưng nó đã ẩn chứa trong đó khát khao mãnh liệt của Nam Cao về sự thay đổi xã hội, hướng tới xã hội mới tốt đẹp hơn.

Đọc toàn bộ tác phẩm, không thấy xuất hiện một lời bình luận, nhận xét hay thương cảm về số phận nhân vật và những bi kịch trong xã hội. Nam Cao đã miêu tả tất cả với một thái độ lạnh lùng của một ngòi bút sắc lạnh. Nhưng vượt lên trên tất cả, người ta vẫn cảm nhận được ỗ đó tình thương yêu con người sâu sắc. Tất cả làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm nghệ thuật đích thực: “vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn”, “là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn…”

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 10
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 10

Continue Reading

Tin Tức tổng hợp 24h

Top 10 Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao

Văn học Việt Nam 1930-1945 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của nền văn học dân tộc. Bên cạnh sự phát triển của văn học lãng mạn thì văn học hiện thực phê phán cũng có vô vàn tác phẩm để đời. Trong đó không thể không nhắc tới cái tên Nam Cao cùng một loạt các kiệt tác, đặc biệt là truyện ngắn “Chí Phèo”, là bản cáo trạng rõ nét và xác đáng nhất của xã hôi thực dân nửa phong kiến đương thời. Bạn đọc muôn đời nếu nhớ đến hình tượng một Chí phèo chuyên rạch mặt ăn vạ, thì càng không thể quên được hình ảnh bát cháo hành nghi ngút tình thương màn đầy giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành trong tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Published

on

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1

Nam cao đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, đó là tác phẩm Chí Phèo. Các nhân vật trong truyện là những con người hiền lành lương thiện nhưng do xã hội xô đẩy khiến họ thành những con người mất hết lương tri. Hình ảnh bát cháo hành trong truyện chính là phần thưởng quý giá mà tác giả ban tặng cho nhân vật, tạo cơ hội cho nhân vật trở về với cuộc sống đời thường.

Hình ảnh Chí Phèo hiện lên trước mắt người đọc trong những trang đầu của tác phẩm là một người ngang ngược, độc ác, xấu xa. Chí cứ sống trong men say và trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến. Rồi một ngày Chí gặp thị nở, bát cháo hành của thị đã thức tỉnh lương tri đã mất từ lâu của Chí. Nếu như trước đây, Chí chỉ biết uống rượu, chửi bới, dọa nạt, cướp giật, nằm vạ… thì giờ đây khi được ăn bát cháo hành của thị Nở, hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ổi sao mà hắn hiền…? Bát cháo có gì đâu, một chút cháo, vài cọng hành và ba hạt muôi mà hiệu quả thật không ngờ, bát cháo hành quả là liều thuốc giải độc. Nó vừa giúp Chí Phèo thoát ra khỏi cơn Ốm sau khi say rượu vừa khơi dậy bản chất ý thức con người ở Chí. Phải chăng bát cháo hành đơn sơ chân quê đó đã được nấu bằng tất cả tấm lòng yêu thương chân thật của thị Nở? Đúng vậy, “bát cháo hành” tượng hình cho tình cảm của thị Nở với Chí Phèo, một tình cảm dịu dảng, giản dị nhưng đong đầy ân tình, nhân nghĩa… Đó là thứ tình cảm thiêng liêng giữa con người với con người, thứ tình cảm đó có thể cảm hóa được con người, khiến họ từ bỏ những cái xấu xa để sống đúng với bản chất vốn có của một con người.

Từ khi biết làm người đến giờ Chí chưa được ai nấu cho ăn bao giờ, khi nhận được bát cháo của thị Nở, chẳng biết thị nấu ngon dở thế nào nhưng đối với hắn thì đó là bát cháo ngon nhất trong cuộc đời hắn. Chí ăn ngon lành, trong lúc đang húp bát cháo, ta thấy hiện lên trên nét mặt hắn một niềm xúc động, cái thứ từ lâu đã không còn tồn tại trong con người hắn. Đỉnh điểm của sự xúc động ấy đã khiến Chí bật khóc. Hắn đã khóc vì “lần thứ nhật hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay nào hắn có thấy tự nhiên ai cho cái gì… Hắn đã nhìn bát cháo bốc khói mà “bâng khuâng, vừa vui vừa buồn và một cái gì nữa giông như là ăn năn… Tự bao giờ những tình cảm con người đã thức dậy trong tâm can “con vật lạ, con quỷ dữ” của làng Vũ Đại ấy. Bên cạnh Chí, thị Nở múc cháo “nhìn trộm hắn rồi lại cười toe toét. Trông thị thế mà có duyên…”. Lần đầu tiên, Chí đã biết đến cái duyên của một con người.

Rồi hắn nhớ lại khi xưa, nghĩ về quá khứ của mình khi phải săn sóc cho “bà ba”, phải làm những việc xấu xa, hắn đã thấy nhục hơn là thích, rồi hắn thấy sợ. Xưa kia, cũng như bây giờ, hắn thật trong sáng, lương thiện. “Vì vậy bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây thù?” Thật kì diệu, những sự chăm sóc giản dị đầy ân tình và tình yêu thương mộc mạc chân thành của thị Nở đã đánh thức dậy bản chất lương thiện của người nông dân lao động trong hắn. Đây là một đoạn văn tuyệt bút, đầy chất thơ.

Đoạn văn tả cảnh ăn cháo của Chí khiến Chí thành con người thật đáng trân trọng. Bao ngày tăm tối của Chí giờ đã qua, Chí được trở thành một con người bình thường, được hưởng những điều kiện tối thiểu của con người. Khi thị Nở bê cháo đến bên hắn, hắn nhận bát cháo và ăn, “hắn càng ăn mồ hôi lại càng nhiều”, và tât nhiên với một người cảm gió, mồ hôi ra được nhiều là sẽ khỏi. Hắn cũng thế, đỡ khỏi bệnh. Hắn đã cảm nhận được vị ngon của cháo: “Trời ơi! Cháo mới thơm làm sao… những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo ăn rất ngon… Nhưng tại sao mãi đến bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo”. “Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời… Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một tay đàn bà…” Bát cháo hàng đã nói lên tình cảm mà thị dành cho hắn, Một tình cảm ngàn vàng giữa hai con người cùng cảnh ngộ khốn cùng. Phải nói rằng tác giả đã dành rất nhiều tình cảm cho Chí, mới có thể lột tả được nội tâm của Chí chi tiết đến như vậy. Nam Cao đã cho người đọc hình dung được bản chất tốt đẹp, rất đời thường vẫn luôn thường trực trong con người Chí, nó cần có cơ hội mới có thể bộc lộ được.

Thị Nở xuất hiện đúng lúc cuộc đòi Chí không còn một lối thoát, bát cháo hành của thị đến khi Chí thèm được ăn. Chính những điều này đã làm sống lại bản chất lương thiện trong con người hắn. Xây dựng lên hình ảnh thị Nở với bát cháo hành chính là tấm lòng nhân đạo của nhà văn đối với nhân vật của mình. Tác giả muốn chứng minh với người đọc rằng, những con người xấu xa, độc ác, mất hết tính người không phải do tự bản thân họ như thế mà do xã hội đã cướp mất quyền làm người của họ, đẩy họ thành quỷ dữ rồi ghét bỏ họ.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 2

Nếu như anh cu Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân đã đãi người vợ nhặt của mình một chập bốn bát bánh đúc và một bữa ăn thật no nê trước khi “rước nàng về dinh” thì thị Nở của Nam Cao trong Chí Phèo lại đãi Chí một bát cháo hành thơm phức do chính tay mình nấu. Không cầu kỳ hoa mỹ, cũng không cao sang giàu có, bát cháo hành thấm đượm tình người, tình yêu và sự thiện lương trong sáng mà một người đàn bà dở hơi, xấu xí dành cho kẻ tội đồ cùng quẫn đang chìm trong cơn say u mê giữa cuộc đời cô độc.

Chí cô độc vì Chí không cha không mẹ, không người thân thích. Chí bị nhà Bá Kiến đẩy vào tù trong nỗi oan ức, căm hận. Ra tù, Chí từ một người hiền lành tử tế trở thành một thằng săng đá khiến cả làng Vũ Đại khinh sợ. Chí ngập ngụa trong những cơn say rượu triền miên. Chí rạch mặt ăn vạ, rồi vô tình làm tay sai chuyên đi đòi nợ thuê cho Bá Kiến để có tiền uống rượu. Cũng trong cơn say ấy, Chí đã gặp thị. Hai con người bần cùng nhất của làng Vũ Đại, của xã hội quấn vào nhau. Để rồi, sau trận ấy, Chí lên cơn sốt hừ hừ. Thị thương tình nấu cho “người yêu” bát cháo hành để giải sốt. Đang ốm thế thì chỉ có ăn cháo hành, ra được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người ngay đó mà… Thế là vừa sáng thị đã chạy đi tìm gạo. Hành thì nhà thị may lại còn. Thị nấu bỏ vào cái rổ, mang ra chi Chí Phèo. Bát cháo ấy làm Chí hết sức ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải dọa nạt hay là giật cướp. Hắn phải làm cho người ta sợ. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng.

Bát cháo hành đã làm cho Chí tỉnh thức sau cơn say dài triền miên, sau những tháng ngày ngập chìm trong bóng tối. Lúc này, Chí không còn ngật ngưỡng vừa đi vừa chửi với chai rượu ôm trong tay nữa. Tình người đang nhen nhóm trong Chí. Hắn cầm lấy bát cháo đưa lên mồm. Trời ơi cháo mới thơm làm sao ! Chỉ khói xông vào mĩ cũng đủ làm người nhẹ nhóm. Hắn húp một húp và nhận ra rằng : những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo hành ăn rất ngon. Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo ? Có thể lúc này Chí đang rất đói vì đó là biểu hiện thông thường của những kẻ say rượu khi tỉnh. Lúc đói ăn gì cũng thấy ngon. Nhưng với Chí thì khác, Chí không những say rượu mà còn say trong cơn say tội lỗi, tối tăm. Hương cháo hành đã làm Chí tỉnh thức. Và bây giờ Chí đang say thị. Một cơn say thánh thiện, một cơn say tình yêu.

Lần đầu tiên Chí được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”. Dẫu thị có là người dở hơi, xấu xí tới mức ma chê quỷ hờn nhưng không ai có thể phủ nhận tấm lòng của thị khi tình nguyện nấu cho Chí một bát cháo hành ngon lành đến thế. Chí bắt đầu cảm nhận được những hương vị của cuộc sống giản đơn xung quanh mình. Tiếng mái chèo gõ cá, tiếng chim hót, tiếng người nói lao xao… Những thứ ấy ngày nào cũng có nhưng bị khỏa lấp trong men rượu nên Chí chẳng thể nào cảm nhận được. Chí nghĩ đến những tháng ngày ở nhà Bá Kiến, bị bà ba sai khiến. Chí hiểu rằng sự ham mê của bà ba không phải là tình yêu mà chỉ là một điều nhục nhã, dơ bẩn. Hắn chưa được một người đàn bà nào yêu cả, vì thế mà bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây kẻ thù ? Dường như phần người trong Chí đang dần tỉnh dậy. Chí nhận ra rằng mình vẫn còn cơ hội làm lại từ đầu, làm hòa với mọi người và chính thị sẽ là cầu nối cho hắn.

Bát cháo hành tình nghĩa đã làm thay đổi cuộc đời Chí. Lúc này trông Chí rất hiền. Một người đàn bà dở hơi như thị cũng dễ dàng nhận ra điều đó. Dù trên khuôn mặt Chí đã hằn in bao vết sẹo dài sau mỗi lần rạch mặt ăn vạ, nhưng từ trong sâu thẳm đôi mắt ăn năn, Chí đang khát khao được quay trở lại làm người lương thiện. Nếu như bát cháo ấy cũng do Chí giành giật mà có được, hẳn nó sẽ không mang lại nhiều thay đổi cho Chí như vậy. Bởi bát cháo được nấu lên từ tình yêu chân thành, từ tấm lòng lương thiện của thị Nở, từ chính lòng đồng cảm, xót thương của nhà văn Nam Cao. Yêu nhau, người ta chăm sóc cho nhau là chuyện bình thường. Nhưng với Chí, điều ấy đáng quý, đáng trân trọng hơn bao giờ hết. Bởi lúc gặp thị, Chí đang ở tận cùng, tận đáy của nỗi đau, nỗi tuyệt vọng.

Không một ai nhìn nhận Chí là một con người nữa. Vậy mà thị không những làm quen với Chí mà còn yêu Chí, thương Chí bằng một tình yêu rất thật, rất tự nhiên. Hoặc cũng có thể tình yêu là mù quáng. Nhưng rõ ràng, bát cháo hành vẫn ẩn chứa tình người thiêng liêng vô cùng. Một người chưa từng được ăn cháo hành sẽ thấy nó rất ngon, nhưng với Chí, nó không những ngon mà còn rất ý nghĩa. Nó làm cho Chí tỉnh. Lúc tỉnh táo, hắn cười nghe thật hiền. Thị Nở lấy làm bằng lòng lắm. Bây giờ thì mấy bát cháo ý chừng đã ngấm. Hắn thấy lòng rất vui.

Bát cháo ấy còn là hiện thân của lòng đồng cảm và sự xót thương của chính nhà văn dành cho đứa con đẻ Chí Phèo của mình. Đồng thời đó cũng là tình cảm dành cho những người nông dân đang cùng quẫn như Chí, đang sống lay lắt dưới chế độ phong kiến tàn ác, bất nhân. Giữa xã hội ấy, họ phải dành lấy mà ăn, kẻ nào mạnh sẽ sống, kẻ yếu sẽ chết dần chết mòn. Và trong lúc Chí đang dần đi vào cõi chết một cách tội lỗi thì bát cháo hành của thị đã làm Chí bừng tỉnh. Chí quay đầu lại, làm lại từ đầu.

Mặc dù sau đó, thị đã cự tuyệt tình yêu của Chí, đã bỏ rơi Chí giữa những tuyệt vọng phũ phàng. Dù Chí lại tìm đến rượu nhưng lần này hơi cháo hành đã lấn át men rượu, làm Chí càng uống càng tỉnh. Chí tỉnh nên tất nhiên Chí biết mình phải làm gì. Chí đã đến giết Bá Kiến rồi tự vẫn. Không còn một anh Chí hiền lành hay một con quỷ dữ mang tên Chí Phèo nữa. Nhưng sau câu chuyện, hình ảnh bát cháo hành vẫn gợi lên cho người đọc bao nghĩ suy. Bát cháo hành là sự nhân đạo, thể hiện tình người cao quý thiêng liêng, làm thay đổi cái nhìn của người khác về một kẻ tội đồ. Ai cũng nhìn Chí bằng con mắt khinh sợ. Nhưng sau khi nhận được ân huệ là một bát cháo của thị Nở, được nấu bằng tình yêu thương thực sự, Chí đã trở lại con người của chính mình. Đó là một ý nghĩa rất nhân văn. Rằng những kẻ tội lỗi rất cần được sự quan tâm của mọi người xung quanh. Đừng hắt hủi họ.

Có thể họ đang cảm thấy tự ti, xấu hổ, đang muốn dấn sâu thêm vào tội lỗi, nhưng khi nhận được tình cảm thật sự, tâm hồn họ sẽ được cảm hóa. Trong xã hội ngày nay, có biết bao người đang sống trong lầm lỗi. Đừng chỉ nhìn họ bằng ánh mắt khinh thường, ghét bỏ, bởi phía sau những tội ác họ gây ra, hẳn vẫn còn trắc ẩn chút ít lòng lương thiện. Vậy hãy dùng lòng lương thiện của mình để làm sống lại lòng lương thiện của họ. Thị Nở chỉ là một người đàn bà dở hơi, sở hữu “nhan sắc trời cho” dẫu xấu tới mức ma chê quỷ hờn, thị cũng chẳng giàu có nhưng thị vẫn dành cho Chí một tình yêu thương thánh thiện. Còn chúng ta thì sao ? Hãy nghĩ tới bát cháo hành, nghĩ tới những điều đã thay đổi trong cuộc đời Chí sau khi được tận hưởng bát cháo ấy.

Nhà văn Nam Cao đã rất khéo léo khi xây dựng nên hình ảnh bát cháo hành để người đọc thấy rằng tình người mới là thứ đáng quý nhất, đáng trân trọng nhất. Và tình người là khi không phân biệt giàu nghèo, sang hèn… người tội lỗi lại càng cần có tình người hơn. Giống như bát cháo hành đã xoa dịu cuộc đời Chí, giúp Chí lấy lại được phần người trong con người của mình. Chỉ tiếc rằng, trong xã hội ấy, Chí vẫn chỉ là một người nông dân mang thân phận thấp hèn, vẫn bị chế độ phong kiến vùi dập, và Chí đã chọn cái chết để hương cháo hành không bị phôi phai bởi hương rượu nữa…

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 2
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 2
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 2
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 2

3


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 3

Đề tài người nông dân có thể coi là mảnh đất màu mỡ mà các nhà văn hiện thực 1930 -1945 đã gieo hạt nghệ thuật và gặt hái được những mùa bội thu. Nam Cao là người đến sau khi mà mảnh đất ấy đã được khai vỡ, nhưng bằng tất cả tâm huyết, tình cảm của mình đối với những con người nghèo khổ – những kẻ dưới đáy của xã hội, Nam Cao đã tìm được cho mình một chỗ đứng riêng.

Tác phẩm Chí Phèo – đứa con sinh sau đẻ muộn nhưng không chịu thua kém “anh chị” mình vươn mình lên hàng kiệt tác – đỉnh cao của văn học 1930 – 1945. Chí Phèo có được vị trí ấy là bởi giá trị tư tưởng mới mẻ, độc đáo, bởi nghệ thuật viết truyện lôi cuốn, hấp dẫn của ngòi bút Nam Cao. Và một điều không thể không kể đến đó là bởi Nam Cao đã xây dựng thành công những chi tiết nghệ thuật độc đáo: bát cháo hành của Thị Nở.

Bát cháo hành xuất hiện ở gần cuối thiên truyện. Chí Phèo sau khi uống rượu nhà Tự Lãng không về túp lều của mình mà ra thẳng bờ sông. Ở đó bắt gặp Thị Nở – người đàn bà ngớ ngẩn, xấu ma chê quỷ hờn, đi kín nước nhưng ngủ quên ở bờ sông. Khung cảnh hữu tình: trăng lấp lánh trên mặt sông, gió thổi mát rượi và những tàu chuối “giãy đành đạch như hứng tình”, cùng với hơi men của rượu đã đưa đến mối tình Chí Phèo – Thị Nở. Sau đêm trăng gió với Thị, Chí bị cảm, Thị Nở thương tình, sau một đêm trằn trọc suy nghĩ, Thị chạy đi tìm gạo và nấu cháo hành mang sang cho Chí.

Bát cháo hành – biểu tượng của tình người ấm nóng duy nhất còn sót lại nơi làng Vũ Đại khô khát yêu thương. Bát cháo hành có lẽ đối với mỗi người nó chỉ là những thứ vặt vãnh, vụn vặt, nhất là khi cháo lại được nấu bởi bàn tay Thị Nở. Cháo ấy có ngon không? Chúng ta không biết, chỉ biết một điều nó chan chứa tình người. Một tình người rất thật, rất hồn nhiên, vô tư, không vụ lợi mà Thị Nở dành cho Chí. Nó chỉ đơn giản là bởi Thị thấy Chí bị “thổ một trận nhọc” mà không có người chăm sóc, bởi Thị nghĩ ốm như thế thì chỉ có ăn cháo hành. Và rất hồn nhiên Thị nấu cháo hành mang sang.

Bát cháo hành – vị thuốc giải cảm cho Chí. Sau khi bị thổ, lần đầu tiên Chí tỉnh, lần đầu tiên cảm nhận được cuộc sống, nghe thấy được những âm thanh xung quanh: “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá”, “tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”, “tiếng những người đi chợ trò chuyện… Một ước mơ xa xăm của một thời nào Chí thấy như xa lắm. Hắn đã từng mơ có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ vốn nuôi một con lợn. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Trận ốm đã làm cho hắn thoát khỏi cơn say triền miên mà nhận thức được mình, thấy mình đang ở cái dốc bên kia của cuộc đời, biết sợ tuổi già, ốm rét và cô độc. Trận ốm đã làm cho hắn biết sợ – cái mà có lẽ trước giờ chưa bao giờ hắn nghĩ tới. Thị Nở sang cùng bát cháo hành đưa cho hắn.

Nhận bát cháo từ tay Thị mà hắn “ngạc nhiên”. Ngạc nhiên cũng đúng thôi vì “từ trước đến giờ đã ai cho hắn cái gì. Muốn cái gì hắn phải dọa nạt hay cướp giật”. Một cảm xúc khác thay cho cái ngạc nhiên ban đầu “hắn thấy mắt ươn ướt, một chút gì như là ăn năn”. Chí ăn năn về những gì mình đã gây ra, có thể là như lời nhà văn “người ta thường ăn năn về những việc mình làm khi người ta không ác được nữa” nhưng dẫu sao điều ấy là không muộn. Chí ăn cháo hành và thấy “cháo hành ăn rất ngon”. Tình người đầu tiên Chí nhận được sao không ngon cho được. Sự chăm sóc đầy ân tình dẫu chăng còn thô vụng của Thị Nở nhưng vẫn đáng quý biết bao

. Còn gì quí giá hơn khi người ta ốm còng queo một mình mà lại được một bàn tay chăm sóc. Chí đã khao khát biết bao một bàn tay chăm sóc như thế. Bát cháo hành – sự chăm sóc, quan tâm vô tư của Thị Nở làm Chí nghĩ tới bà Ba Bá Kiến. Hai người đàn bà quan tâm tới Chí nhưng một người mặt hoa da phấn, áo quần là lượt nhưng tâm địa tà dâm chỉ cốt thỏa mình, còn một người xấu ma chê quỷ hờn nhưng tâm địa tốt, quan tâm Chí thật lòng. Bát cháo hành trên tay hơi nghi ngút làm cho Chí “vã mồ hôi ra như tắm”. Bát cháo tưởng vặt vãnh đã trở thành liều thuốc giải cảm hữu hiệu cho Chí.

Bát cháo hành – vị thuốc giải độc cho cuộc đời Chí. Không chỉ giải cảm, bát cháo hành – tình người duy nhất đã gợi thức phần lương tri ngủ quên trong lốt “con quỷ dữ Chí Phèo”. Từ ăn năn, hối hận, Chí bỗng thấy thèm lương thiện, thèm trở về cuộc sống ngày trước. Bát cháo hành đã dẫn đường cho hi vọng hoàn lương: Thị Nở có thể làm hòa với hắn thì mọi người cũng có thể làm hòa với hắn. Khát khao lương thiện bùng dậy mãnh liệt đã khiến Chí dồn hết hi vọng vào Thị Nở – về cây cầu đưa hắn về với cuộc đời lương thiện. Bát cháo hành đã hoàn thành thiên chức gọi chất người, khơi hòn than đỏ vùi trong lớp tro tàn đang âm ỉ, nó đưa Chí qua một cuộc lột xác để về với sự lương thiện.

Nhưng bát cháo hành cũng chính là chi tiết đẩy bi kịch của Chí lên tới đỉnh điểm, dẫn tới một kết thúc thảm thương đầy đau đớn. Sau năm ngày ở với Chí Phèo, Thị Nở “bỗng nhớ ra mình còn một bà cô trên đời” và quyết định “dừng yêu” để xin ý kiến bà cô. Thị bị bà cô xỉa xói vào mặt và khi quay lại nhà Chí Phèo, Thị chửi Chí bằng tất cả những lời của bà cô và vùng vằng quay về. Chí “ngẩn người ra” và chạy vội ra níu tay Thị nhưng bị Thị dúi cho một cái rồi bỏ về. Chí rơi xuống hố sâu của tuyệt vọng. Thị Nở đã phụ bạc hắn, hắn không còn cơ hội để quay về với cuộc sống lương thiện. Tuyệt vọng, hắn uống rượu nhưng càng uống càng tỉnh và thoang thoảng cứ thấy “hơi cháo hành”. Đó là biến thể của “bát cháo hành”. Hắn không say, vị ngọt tình người cứ thoang thoảng để hắn đau khổ “khóc rưng rức”. Cuối cùng Chí lựa chọn cầm dao đến nhà Bá Kiến, đâm Bá Kiến và tự sát. Hơi cháo hành đã không cho phép hắn trở lại cuộc sống con quỷ một lần nữa. Hắn để trở về lương thiện chỉ còn cách duy nhất là tự sát. Bát cháo hành đã gọi dậy con người trong Chí để nó thức dậy mặc dù chỉ để khổ đau, để phải bi kịch. Nhưng dẫu thế nó cũng không chấp nhận chết đi mãi mãi. Và bát cháo hành chính là cánh cửa đưa nó thoát khỏi kiếp đọa đày.

Bát cháo hành – một chi tiết nghệ thuật mang đầy dụng công của Nam Cao. Nó góp phần thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn: Điều mà chúng ta thiếu đó chính là lòng tốt – một lòng tốt rất bình thường cũng có thể cứu rỗi con người. Và kết cục của Chí Phèo thể hiện một niềm tin của nhà văn: dẫu có bị bầm dập về nhân hình lẫn nhân tính, lương thiện trong con người đặc biệt là những người nông dân cũng không mất đi, nó chỉ cần đợi có cơ hội là sẽ bùng lên mạnh mẽ.

Qua chi tiết nó cũng cho ta thấy một hiện thực mà nhà văn đau đáu: đó là những định kiến làng xã nông thôn đã tước đi quyền được sống của con người… Qua đó nhà văn cũng gióng lên một hồi chuông khẩn thiết đòi thay máu cho xã hội để ít nhất con người được sống lương thiện. Bát cháo hành – chi tiết đặc sắc đã góp phần làm nên “nhà văn lớn” Nam Cao. Tác phẩm khép lại nhưng dư âm của tình người trong chi tiết nghệ thuật ấy vẫn còn mãi.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 3
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 3
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 3
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 3

4


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 4

Không hiểu sao khi đọc “Chí Phèo” của Nam Cao tôi luôn luôn hình dung ra một con đường in bóng hình những bước chân loạng choạng, ngật ngưỡng đầy phẫn uất của một Chí Phèo say – tỉnh. Và trên con đường – hành trình đời đầy nỗi đau và bi kịch ấy, những giây phút hạnh phúc, những cử chỉ yêu thương mà Chí được hưởng thật hiếm muộn như những giọt nước trên sa mạc mênh mông. Song dù chỉ là một giọt nước giữa sa mạc đời bao la của Chí thì bát cháo hành của thị Nở vẫn làm tròn nhiệm vụ của một nguồn nước mát lành góp phần thức tỉnh, hồi sinh tâm hồn Chí sau bao tháng năm đọa đày trong kiếp sống của con quỷ dữ. Cùng với những ám ảnh về bi kịch nhân sinh của con người, hương cháo hành thoang thoảng trong “Chí Phèo” mãi mãi còn vương vấn trong hồn người đọc như một biểu tượng của tình cảm nhân đạo sâu sắc đậm đà trong siêu phẩm này.

Hình ảnh “bát cháo hành” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo trong truyện gắn liền với mối tình “đôi lứa xứng đôi” Chí Phèo – thị Nở. Trước khi gặp thị, Chí đã từng là một người nông dân lương thiện, hiền lành như cục đất. Con người ấy dù có tuổi thơ bất hạnh, bị chuyên tay như một món hàng nhưng vẫn giữ trọn những vẻ đẹp tâm hồn cao quý, thiêng liêng của một đời lương thiện, biết phải trái, đúng sai, biết tự trọng. Nhưng bàn tay của bọn cường hào phong kiến (mà đại diện là Bá Kiến) và cái nhà tù thực dân không cho con người hiền ấy sống đời lương thiện. Chúng hùa với nhau, tước đi của Chí cả nhân hình, nhân tính của người nông dân lương thiện, để biến anh Chí thành thằng Chí Phèo, biến anh canh điền hiền lành, chăm chỉ thành kẻ lưu manh có mỗi một nghề là rạch mặt ăn vạ.

Sau 7, 8 năm đi khỏi làng Vũ Đại, Chí Phèo hồi hương trong tình cảnh vô sản “trần như nhộng”. Sự hiện hữu của Chí Phèo ở làng Vũ Đại là một con số “không” tròn trĩnh, không nhà không cửa, không bạn bè người thân, không một tấc đất cắm dùi, không được thừa nhận là một con người. Đó là cái bi kịch đau đớn của con người cô đơn đi giữa đồng loại. Chí chửi mong nhận được sự hồi đáp – dù là sự hồi đáp thấp hèn nhất nhưng cũng không có. Chẳng ai cho Chí chút quan tâm, không ai coi hắn là người. Hắn chửi vào khoảng không bao la của sự vô tình, lạnh lẽo. Hắn chửi thì tai gần miệng đấy, hắn lại nghe. Chỉ còn một thằng say rượu cùng ba con chó dữ. Còn gì thê thảm hơn thân phận của con người ấy – thân phận của con người – vật.

Cái lần đầu tiên ra tù rồi đến nhà Bá Kiến chửi đổng hình như Chí Phèo đã lờ mờ nhận ra kẻ thù đã dìm mình xuống vũng bùn tha hóa. Nhưng ở cái mảnh đất “quần ngư tranh thực” này, trước một Bá Kiến gian hùng, “khôn róc đời”, Chí Phèo thật thảm hại biết bao. Chí không những không trả thù được mà còn trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến – kẻ thù của mình, tiếp nối đời Năm Thọ, Binh Chức. Từ đó Chí Phèo trượt dài trên con dốc tha hóa, xuống đáy vực của nó để thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Người ta tránh hắn, sợ hắn vì hắn làm bao nhiều việc cướp bóc, đốt phá, làm chảy máu và nước mắt của bao người lương thiện. Hắn làm tất cả những việc ấy trong cơn say triền miên, vô tận, đến nỗi chính hắn không biết về chính bản thân mình. Gương mặt quỷ dữ, hành động tác quái theo kiểu quỷ dữ của Chí đã khiến con đường trở về của Chí cụt lối. Cánh cửa của xã hội lương thiện đã đóng sầm trước mặt hắn khi hắn hồi hương thì đến nay nó được chèn cài kỹ lưỡng, im ỉm như một khối băng. Chí hiện diện như một bóng hình hắc ám đi bên lề cuộc sống của làng Vũ Đại.

Thế nhưng, phía cuối đường hầm vẫn còn chút ánh sáng le lói để Chí hy vọng. Trong cái làng Vũ Đại ấy vẫn còn một con người nhìn đến Chí, không sợ Chí Phèo và luôn đi qua vườn nhà Chí để kín nước. Đó là một người đàn bà khốn nạn, khổ đau, chịu nhiều thiệt thòi – thị Nở. Chao ôi! Sao Nam Cao lại dùng những lời văn lạnh lùng đến tàn nhẫn, mỉa mai để tả người đàn bà khốn khổ ấy? Đã mang một dung nhan “xấu ma chê quỷ hờn”, Thị lại còn dở hơi “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích”, mà thị lại còn nghèo nếu trái lại thì ít nhất có một người đàn ông khổ sở. Chưa hết, thị Nở còn có dòng giống mả hủi nên người ta vẫn tránh thị như tránh một con vật rất tởm. Ngoài 30 tuổi thị vẫn chưa lấy chồng trong khi ở cái làng Vũ Đại người ta kết bạn từ lúc lên tám, lên chín, có con từ lúc 15, không đợi đến năm hai mươi đẻ đứa con thứ nhất. Trong tình hình đó ta có thể nói quách thị không có chồng.

Ông trời nhiều khi run rủi, thương người nhưng thực sự ở trường hợp Chí Phèo – thị Nở này ta có thể nói ông thương hay ông ác, gây nghịch cảnh trớ trêu? Trách trời chi cho xa, trách nhà văn Nam Cao sao không tác thành cho mối tình “đôi lứa xứng đôi” ấy? Song làm sao mà tác thành được, ai cho phép họ đến với nhau. Cả một xã hội với bao định kiến không cho họ đến với nhau, không cho họ hạnh phúc trọn vẹn. Xét đến cùng ta mới thấy Nam Cao thương người, nếu không có ngòi bút của ông thì những kẻ tha hóa như Chí Phèo, những người đàn bà cùng khốn như Thị Nở chẳng bao giờ được biết đến chút ít hạnh phúc của tình ái. Họ đã gặp nhau trong một đêm gió mát, rười rượi ánh trăng ở vườn chuối cạnh bờ sông mà những tàu chuối bị gió bay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình. Khung cảnh lãng mạn đang tác thành cho họ. Chí Phèo uống rượu ở nhà Tự Lãng đã say từ nửa đường; thị Nở đi kín nước cũng hớ hênh tựa vào gốc chuối ngủ trong cái gió mát như quạt hầu. Hai con người dị dạng, hai số phận trớ trêu đã trải qua một đêm tình lãng mạn đúng kiểu “Chí Phèo – Thị Nở”. Nhưng Nam Cao dựng lên mối tình “người – ngợm” này không phải để câu khách rẻ tiền mà làm tỏa sáng tình người, tình yêu thương và sự săn sóc ấm áp của một người đàn bà xấu xí ngoại hình nhưng lại có một tấm lòng vàng.

Đêm tình ấy khiến thị Nở xao xuyến, suy nghĩ nhiều, đặc biệt về Chí Phèo, về trận ốm của Chí. Thị về nhà sau cuộc tình, sau khi dìu Chí vào nhà và trằn trọc không sao ngủ được. Thị nghĩ “thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi là hôm nay nhọc nhừ”. Và thị thấy phải cho hắn ăn một tí gì mới được, “Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành. Ra được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người ngay đó mà”. Thế là vừa sáng thị đã chạy đi tìm gạo để nấu cháo cho Chí. Hành thì nhà thị may lại còn. Nam Cao đã miêu tả chiều sâu tâm lý nhân vật với những rung cảm, nhưng suy tư tinh tế. Tâm lí của thị Nở vừa rất ngô nghê lại vừa sâu sắc. Đó là rung cảm, những tình cảm tha thiết của một người đàn bà, nhất là một người đàn bà đang yêu và muốn chăm sóc cho người yêu của mình. Thị không dở hơi mà ta thấy thị rất lo cho Chí, lo với tình cảm của nhân tình, nhân ngãi, của người làm ơn và cũng là của người chịu ơn.

Thị nghĩ: “mình bỏ hắn lúc này cũng bạc. Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau như “vợ chồng”. Tiếng “vợ chồng” thấy ngường ngượng mà thinh thích…”. Thiên tính nữ, thiên chức của người đàn bà thức dậy trong thị. Thị khao khát hạnh phúc, tình yêu như mọi người, dù chỉ là làm vợ của thằng… Chí Phèo. Cho nên bát cháo hành của thị Nở đem cho Chí không chỉ là trách nhiệm mà còn là cả một tấm lòng. Hơn tất cả những người đẹp đẽ ở làng Vũ Đại, thị có một tấm lòng vàng, tấm lòng chân thành và cao cả. Trong thâm tâm của thị, thị lo cho Chí, một nỗi lo thực sự của những người thân yêu dành cho nhau. Thị còn thấy thương Chí: “cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình”. Đồng thời bát cháo ấy còn có lòng yêu, tình yêu: “Thị thấy như yêu hắn: đó là cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có cả lòng yêu của một người chịu ơn”.

Cho nên, thị đem cho Chí nồi cháo hành còn nóng nguyên để hắn ăn cho khỏi ốm. Hơn một chi tiết nghệ thuật, bát cháo hành của Thị Nở đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật, một siêu mẫu trong văn học hiện đại Việt Nam. Bát cháo ấy do thị Nở nấu có thể chẳng mấy ngon nhưng quan trọng nó là tình thương, tình yêu, tình người ấm áp. Nó là sự chăm sóc ân cần mang theo những nỗi lo âu thực sự của tấm lòng thị Nở dành cho Chí. Đặt trong quãng đời dài dặc đầy bi kịch của Chí, trong hoàn cảnh dưới đáy hiện tại của Chí, bát cháo ấy là tình người hiếm hoi mà Chí nhận được, là hạnh phúc tình yêu muộn mằn, quý giá vô ngần mà lần đầu tiên trong đời hắn được hưởng. Hương vị cháo hành – hương vị tình yêu tỏa sáng, vượt lên hoàn cảnh, lên trên mọi định kiến của xã hội. Nó mãi mãi còn thoang thoảng, lan tỏa theo suốt cuộc đời của Chí.

Một điều độc đáo ở đây là Nam Cao đã miêu tả quá tình diễn biến tâm lý nhân vật Thị Nở rất tinh, rất sâu theo một tiến trình, một quá trình. Cách miêu tả tâm lý ấy cộng hưởng cùng nghệ thuật đối lập (giữa ngoại hình và tâm hồn nhân vật Thị Nở) khiến mỗi người đọc cũng xúc động rưng rưng cùng nhân vật. Hóa ra Nam Cao không thóa mạ, hay hạ thấp con người bằng những nét vẽ ngoại hình trần trụi, mà ngược lại, ông đề cao, tôn vinh con người. Vẻ đẹp cao quý nhất của con người là vẻ đẹp tâm hồn, là tình người, là tấm lòng cao cả. Đó là tiêu chuẩn, là thước đo giá trị người của con người. Nhìn như thế, ta sẽ thấy Thị Nở là người phụ nữ đẹp nhất làng Vũ Đại và đẹp nhất trong văn học Việt Nam.

Nói Thị Nở đẹp không hề quá đáng bởi bát cháo hành kia đâu chỉ là tình thương, tình yêu, là sự chăm sóc ân cần mà nó có tác dụng diệu kỳ – cảm hóa con người, thức tỉnh phần người, phần nhân tính bị vùi lấp bao lâu nay trong Chí Phèo. Nói đúng hơn là Thị Nở đã thức tỉnh Chí, cứu vớt Chí, làm hồi sinh tâm hồn, nhân tính trong Chí. Điều đó không phải ai cũng làm được. Và như thế, ta thấy chi tiết bát cháo hành không thể thiếu trong tác phẩm. Nó thể hiện tình cảm, tư tưởng nhân văn sâu sắc của nàh văn Nam Cao. Ông luôn luôn băn khoăn, trăn trở về vấn đề nhân tính của con người. Ông luôn mang trong mình niềm tin mãnh liệt vào con người, vào phần lương thiện thiêng liêng, quý báu trong mỗi con người. Thiên lương ấy không bao giờ bị mất đi, không một thế lực nào giết được. Nó như một thứ lửa luôn âm ỉ cháy trong trái tim của con người, kể cả những con người ở giữa vũng bùn lầy của sự tha hóa như Chí Phèo – không còn chút nhân hình, nhân tính nào nữa – theo cái nhìn từ bên ngoài, từ người ngoài.

Những dòng Nam Cao miêu tả Chí Phèo ăn cháo hành có thể nói là những dòng văn sâu sắc, xúc động nhất tác phẩm. Nhìn thấy bát cháo hành “Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì…”. Chí đi từ ngạc nhiên đến xúc động nghẹn ngào. Đây là lần thứ nhất trong đời hắn khóc sau những năm tháng bị đọa đày và cũng là lần thứ nhất trong đời hắn nhận được một thứ người ta cho, cho vô tư, không tính toán. Hắn không phải dọa nạt hay cướp giật mà vẫn có được. Quan trọng, đây là lần đầu tiên trong đời Chí được một người đàn bà quan tâm, săn sóc, dành tình cảm cho; cũng là lần đầu tiên sau khi ra tù Chí được một con người nhìn nhận mình như một con người, đối xử với mình theo cách con người dành cho nhau. Và hắn thấy thị có duyên bởi trong mắt kẻ si tình người yêu của mình bao giờ chẳng đẹp, chẳng duyên. Để rồi sau đó, Chí Phèo tỉnh, tỉnh để suy tư, chiêm nghiệm.

Chí thực sự đã tỉnh rượu, đã tỉnh ngộ và ý thức được về cuộc sống sau những tháng năm say triền miên, vô tận, say để không biết có sự hiện hữu của mình trên cõi đời. “Hắn thấy vừa vui, vừa buồn. Và một cái gì nữa giống như là ăn năn”. Chí cảm nhận được tất cả vị thơm ngon của nồi cháo hành: “Trời ơi cháo mới thơm sao! Chỉ khói xông lên mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Hắn húp một húp và nhận ra rằng: Những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo hành rất ngon…”. Hơi cháo hành, bàn tay chăm sóc và tình cảm của thị Nở đã làm cho Chí tỉnh, tỉnh để mà nhận ra mình, nhận thức về những việc mình đã làm. Hơi cháo làm Chí nhẹ người, chí khỏi ốm để ăn năn, sám hối. Hơn lúc nào, Chí cảm thấu tình cảnh thê thảm, bi đát của mình cho nên hắn vừa vui lại vừa buồn. Vui vì tình yêu, hạnh phúc muộn mằn, dù muộn nhưng đã đến; buồn vì thân phận, vì cuộc sống quá loài vật của bản thân.

Cháo hành rất ngon nhưng “tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo?”. Hắn hỏi rồi hắn tự trả lời: “có ai nấu cho mà ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa! Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”. Thê thảm quá! Bi kịch quá! Xót xa muôn phần! Một chút gì như cay đắng nghẹn lòng nữa! Chí nghĩ đến những tháng ngày nhục nhã bị bà ba nhà Bá Kiến – “con quỷ cái” cứ hay gọi hắn đấm lưng, bóp chân “mà lại cứ bắt bóp lên trên, trên nữa”. Hắn thấy nhục chứ sung sướng gì. “Hai mươi tuổi người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt. Người ta không thích những cái người ta khinh …”. Rõ ràng đến đây, Chí hiện lên là một chân dung con người đầy đủ, vẹn toàn có cả quá khứ, hiện tại, có những suy nghĩ sâu xa, những tâm trạng phong phú, ý thức đầy đủ về bản thân. Người nông dân lương thiện trong Chí đang trở về sau những năm tháng dài bị đi đày xa tắp. Nhưng có ai nhận thấy đâu, họa chăng chỉ có thị Nở vì thị thấy chí rất hiền, “ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người?”

Nam Cao vốn là một nhà văn có cái nhìn đời thấu suốt, tinh sắc. Ông không dừng lại ở sự thức tỉnh của Chí Phèo nhờ bát cháo hành mà ông còn đưa người đọc đi xa hơn đến chân trời ước mơ, hy vọng của Chí. Với ước mơ quá khứ sống dậy, ước mơ trong hiện tại bùng cháy thiêu đốt tâm can, Chí đã thực sự hồi sinh, là một con người hoàn toàn theo đúng nghĩa của hai chữ CON NGƯỜI viết hoa (chữ của M.Gorki).

Bát cháo húp xong, Thị Nở đỡ lấy bát và múc thêm bát nữa. Hắn thấy đẫm bao nhiêu mồ hôi, những giọt mồ hôi to như giọt nước. Chí biết mình đã đến cái dốc bên kia của cuộc đời và chí thấy “thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn sao người khác không thể… Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”. Hạnh phúc chớm nở như hoa hàm tiếu và hy vọng được nhen lên rồi bùng cháy mãnh liệt như ngọn lửa được tiếp ôxi. Chí khao khát cuộc đời lương thiện, muốn làm hòa với mọi người. Thị Nở sẽ là cầu nối, là hy vọng, mở ra cánh cửa của thế giới lương thiện vẫn đóng im ỉm cho Chí. Bát cháo hành của tình yêu, tình người đã làm tươi lại, thanh lọc tâm hồn Chí. Cái ước mơ của Chí rất giản dị mà thiêng liêng, cao cả xiết bao. Nó mang tư tưởng nhân văn sâu sắc, mới mẻ của nhà văn Nam Cao. Bởi đã là con người, dù dị dạng, dù tha hóa nhưng họ vẫn có quyền được sống lương thiện, vẫn không thôi ước mơ, không hết sự khát thèm cuộc đời bình dị trong hạnh phúc và tình yêu.

Song xã hội lương thiện mà Chí Phèo thấy bằng phẳng kia không hề bằng phẳng. Nó còn bao định kiến, bao sự cách ngăn, bao điều nghi kỵ. Tất cả đã không cho Chí một cơ hội nào trở về cuộc đời bình thường như bao người bình thường. Bị thị Nở cự tuyệt, hắn phẫn uất, cùng cực tìm đến rượu. Nhưng hắn “càng uống lại càng tỉnh ra”. “Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành”. Hơi cháo hành ấy là dư ảnh của bát cháo kia xuất hiện lần cuối để giữ Chí lại bên bờ tỉnh, để hắn tự ngấm, tự thấm bi kịch nhân sinh cuộc đời. Tất cả hy vọng của Chí đã tan biến theo làn khói hành mong manh, hư ảo. Nhưng hắn không thể sống như trước nữa vì hắn đã tỉnh, hắn vẫn không thôi ước mơ. Chí khóc rưng rức trong tuyệt vọng, trong những tỳ vết tâm hồn, những vết cứa, vết xước của tội ác trong tim hắn biểu hiện lên khuôn mặt dị dạng của hắn vĩnh viễn không thể mất đi. Tất cả đưa Chí Phèo đến kết cục bi thảm, cùng cực khiến người đọc bao năm nay vẫn thôi day dứt trong ám ảnh về những câu nói của Chí: “Ai cho tao lương thiện? … Tao không thể làm người lương thiện nữa…”

Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật song chỉnh thể ấy chỉ có được từ sự phối hợp hài hòa các yếu tố nhỏ hơn, thậm chí chỉ là một chi tiết. Một chi tiết nhiều khi mang sức nặng, cất chứa toàn bộ tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, là chìa khóa thâm nghập vào thế giới nghệ thuật trong tác phẩm. Chi tiết bát cháo hành mà nhân vật Thị Nở mang cho Chí Phèo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao thật ấn tượng, mang nhiều ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc. Nó thúc đẩy sự phát triển, tạo bước ngoặt cho cốt truyện. Đồng thời, nó cũng đầy ám gợi để khắc họa sắc nét, tinh tế thế giới tâm hồn, diễn biến tâm trạng phong phú, phức tạp của các nhân vật. Từ đó, chi tiết làm bật nổi tính cách và bi kịch của các nhân vật ấy như những hồi chuông gióng giả, vang vọng đầy ám ảnh về con người. Bát cháo hành của thị Nở có thể không thể toàn vẹn, thơm tho như chính con người nhân vật nhưng nó là bát cháo của tình yêu thương, của tình người ấm áp, của tình cảm nhân đạo sâu sắc và mối quan hoài thường trực mà nhà văn Nam Cao dành cho con người, nhất là con người có số phận bi kịch. Chính cái nhỏ nhoi, bình dị ấy là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên tầm vóc kinh điển cho kiệt tác “Chí Phèo”.

Bên cạnh Ý nghĩa bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo các em cần tìm hiểu thêm những nội dung khác như Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Chí phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao hay phần Ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo nhằm củng cố kiến thức của mình.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 4
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 4
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 4
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 4

5


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 5

Nam Cao cây bút truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam 1930-1945. Tên tuổi của ông gắn liền với truyện ngắn ” Chí Phèo”. Một truyện ngắn mang hơi thở của tiểu thuyết về cuộc đời anh chàng Chí Phèo và những nhân vật xung quanh làng Vũ Đại. Để tạo nên thành công cho tác phẩm, không thể không kể đến sự thành công xây dựng chi tiết nghệ thuật độc đáo: bát cháo hành của Thị Nở.

Bát cháo hành xuất hiện gần cuối thiên truyện. Chí Phèo uống rượu say ở nhà Tự Lãng, ăn nằm với Thị Nở – người đàn bà ngớ ngẩn, xấu ma chê quỷ hờn. Sáng, Chí bị cảm, Thị Nở thương tình, đi tìm gạo và nấu cháo hành mang sang cho Chí. Bát cháo hành là biểu tượng của tình người ấm nóng duy nhất còn sót lại nơi làng Vũ Đại. Có thể bát cháo với mỗi người chỉ là thứ vụn vặt. Cháo ấy có thể không ngon, nhưng chúng ta phải khẳng định bát cháo chan chứa tình người. Một tình người hồn nhiên, vô tư, không vụ lợi mà Thị Nở dành cho Chí.

Bát cháo hành là vị thuốc giải cảm cho Chí. Sau khi bị thổ, lần đầu tiên Chí tình, lần đầu tiên cảm nhận được cuộc sống, nghe thấy những âm thanh xung quanh. Và ước mơ xa xăm năm nào trở lại trong trí não của hắn. Ước mơ về gia đình nho nhỏ, chồng mướn vợ dệt vải.. Trận ốm làm cho hắn thoát khỏi cơn say triền miên mà nhận thức được mình, thấy mình đang ở cái dốc bên kia cuộc đời, biết sợ tuổi già, ốm rét và cô độc. Bát cháo khiến Chí phải ăn năn về những hành động mình đã làm. Bát cháo hành – sự chăm sóc quan tâm vô tư của Thị Nở khiến hắn nhớ tới bà ba Bá Kiến và thấy ghê rợn về một mụ đàn bà mặt hoa dạ quỷ. Bát cháo ấy tưởng vặt vãnh mà trở thành liều thuốc giải cảm hữu hiệu cho Chí.

Bát cháo hành – vị thuốc giải độc cuộc đời Chí. Chính bát cháo đã gợi thức phần lương tri ngủ quên trong lốt “con quỷ dữ làng Vũ Đại”. Từ ăn năn, hối hận, Chí bỗng thấy thèm lương thiện, thèm trở về cuộc sống ngày trước. Bát cháo hành dẫn đường cho hi vọng hoàn lương. Khát khao lương thiện bùng dậy khiến Chí dồn hết hi vọng vào Thị Nở. Bát cháo hành đã hoàn thiện thiên chức gọi chất người, đưa Chí qua cuộc lột xác để trở về với lương thiện.

Nhưng bát cháo hành cũng là chi tiết đẩy bi kịch của Chí lên đến đỉnh điểm. Sau năm ngày ở với Chí, Thị Nở bỗng nhớ ra mình còn bà cô và quyết quay về xin ý kiến. Thị bị bà cô xỉa xói vào mặt và khi quay lại nhà Chí Phèo, thị cũng chửi lại bằng tất cả những lời của bà cô và vùng vằng bỏ về. Chí níu kéo nhưng bị Thị xô đẩy, Chí rơi xuống hố sâu của tuyệt vọng. Thị Nở đã phụ bạc hắn, hắn không còn cơ hội để quay về với cuộc sống lương thiện. Tuyệt vọng hắn uống rượu nhưng càng uống càng tỉnh và thoang thoảng “hơi cháo hành”. Đó là biến thể của bát cháo hành. Hắn không say, vị ngọt của tình người cứ thoang thoảng để hắn đau khổ “khóc rưng rức”. Cuối cùng hắn lựa chọn cầm dao đến nhà Bá Kiến, đâm Bá Kiến và tự sát. Hơi cháo hành không cho phép hắn trở lại con đường cũ, cuộc sống của con quỷ dữ. Hắn trở về lương thiện chỉ có thể bằng tự sát. Bát cháo hành gọi dậy con người trong Chí để nó thức dậy dù đau khổ, bi kịch. Bát cháo hành chính là cánh cửa đưa nó thoát khỏi kiếp đoạ đầy.

Bát cháo hành một chi tiết nghệ thuật của Nam Cao góp phần thể hiện tư tưởng của nhà văn về quan niệm nhân sinh. Lòng tốt đôi khi phải trả một cái giá cắt cổ. Và đó còn là niềm tin của nhà văn về người nông dân dù có bị bầm dập về nhân hình nhưng không bao giờ mất đi nhân cách tốt đẹp.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 5
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 5
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 5
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 5

6


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 6

Truyện ngắn “Chí Phèo” là một kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại của nhà văn hiện thực và nhân đạo Nam Cao. Qua tác phẩm, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thê thảm, đầy bi thương của những kiếp sống lương thiện nhưng đói nghèo đã bị tha hóa cả về thể xác lẫn linh hồn. Tiêu biểu cho những kiếp người đó chính là nhân vật “Chí Phèo” và những bi kịch mà hắn phải chịu đựng, nếm trải trong chặng đường đời của mình.

Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, người đọc dõi theo từng bước chân của Chí từ một người dân lương thiện bình thường cho đến khi trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại và cuối cùng là cái chết tuy bi thảm nhưng lại là cách giải thoát tốt nhất khỏi những bi kịch mà Chí đang phải chịu đựng. Người đọc không thể quên hình ảnh của Chí lúc mới ở tù ra với “cái đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, mặt đen lại”, “cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm trùy trông gớm chết”. Để rồi từ đó, cuộc đời hắn chìm trong men rượu, trong cơn say hắn đã làm biết bao tội ác, hắn phá vỡ hạnh phúc của biết bao nhiêu gia đình, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người lương thiện.

Những tưởng cuộc đời hắn sẽ trượt dài trong tội lỗi nhưng rồi ở phần cuối của tác phẩm, Chí Phèo đã có ý thức vươn lên khao khát được làm người lương thiện, đỉnh điểm của khát khao đó là hành động xách dao đến nhà bà cô Thị Nở nhưng lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến để đòi lương thiện. Khi nhận ra một sự thật đau khổ đến mức tuyệt vọng là hắn không thể trở lại làm người lương thiện được nữa thì hắn đã giết Bá Kiến – nguyên nhân chính tạo nên mọi bi kịch của cuộc đời Chí và tự kết liễu đời mình để giải thoát khỏi cuộc sống đau khổ hiện tại. Vậy động lực nào đã thúc đẩy Chí hoàn lương? Đó chính là tình thương của Thị Nở và bát cháo hành của Thị.

Bát cháo hành của Thị Nở tuy giản đơn, mộc mạc chỉ có một chút cháo trắng với hành nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự hồi sinh thức tỉnh của Chí. Bát cháo được nấu lên bằng tình yêu thương chân thành, sự cảm thông, thấu hiểu của Thị Nở dành cho Chí, chính vì vậy mà nó có sức lay động mạnh mẽ bản chất lương thiện vốn đã bị vùi sâu trong tâm hồn Chí. Nếu như trước đây, hắn chỉ biết uống rượu, rạch mặt, ăn vạ, rồi gây nên biết bao nhiêu tội ác thì giờ đây sau khi ăn bát cháo hành của Thị Nở hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với Thị như với mẹ. Chưa bao giờ ta thấy hắn hiền như lúc này…Khi nhận được bát cháo hành từ tay Thị, Chí rất ngạc nhiên, hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình ươn ướt. Vậy là Chí đã khóc, một con người đã lấy đi biết bao nhiêu nước mắt của người khác vậy mà giờ đây chính hắn lại khóc.

Hắn đã khóc, khóc vì đây là lần thứ nhất hắn được người ta cho, lại được cho bởi tay một người đàn bà. Trước đây, chỉ toàn là đi cướp giật của người khác, hắn thấy “xưa nay có thấy tự nhiên ai cho ai cái gì”. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng, vừa vui vừa buồn và một cái gì nữa giống như là ăn năn, hối lỗi…Và đây cũng là lần đầu tiên Chí biết đến cái duyên của một người, đó là khi Thị Nở múc cháo “nhìn trộm hắn rồi lại cười toe toét. Trông Thị thế mà có duyên”. Nhìn Thị hắn nghĩ lại quá khứ khi mà hắn phải chăm sóc cho bà ba, phải làm những việc xấu xa hắn thấy nhục hơn là thích. Bát cháo hành của Thị Nở có sức mạnh thật kì diệu, nó đã làm cho một người như Chí phải suy nghĩ: “Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây thù?”.

Đồng thời, bát cháo ấy đã lấy lại sức khỏe cho hắn bởi vì hắn càng ăn mồ hôi lại càng ra nhiều. Và tất nhiên, điều này rất tốt đối với một người bị cảm gió như hắn. Tuy chỉ là bát cháo hành bình thường thôi nhưng nó đã giúp Chí khỏi bệnh, hắn thấy bát cháo mới thơm ngon làm sao, những người suốt đời không ăn cháo hành sẽ không biết rằng cháo hành ăn rất ngon…nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo, tự hỏi để rồi tự mình trả lời. Đó chính là bởi vì đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi tay một người đàn bà. Sự gặp gỡ với Thị Nở như là một điều kì diệu đối với Chí, hình ảnh của Thị giống như một vị cứu tinh trong cuộc đời u ám, say triền miên với những chuỗi dài bi kịch của Chí Phèo. Điều đặc biệt hơn, đây là tình cảm đáng trân trọng giữa những con người có cảnh ngộ khốn cùng.

Tình yêu thương, sự đồng cảm của Thị Nở cùng bát cháo hành như một liều thuốc đã kéo Chí ra khỏi hàng loạt những bi kịch của cuộc đời, giúp Chí tìm lại được chính bản chất lương thiện của mình vốn từ lâu đã bị vùi lấp trong sâu thẳm tâm hồn Chí, nay bỗng được tái hiện như một tia sáng trong cuộc đời tăm tối của Chí Phèo.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 6
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 6
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 6
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 6

7


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 7

Nam Cao là nhà văn hiện thực tiêu biểu của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn 1930-1945. Ông thành công với tác phẩm “Chí Phèo” tái hiện lại hoàn cảnh của người nông dân trước cách mạng tháng Tám bị chèn ép đến mất hết nhân hình lẫn nhân tính. Tuy nhiên ông cũng là nhà văn giàu lòng nhân đạo đã dành cho nhân vật của mình tình thương con người được thể hiện qua chi tiết bát cháo hành mà thị Nở nấu cho Chí Phèo. Bát cháo ấy là hiện thân của tình người thức tỉnh lương tri Chí, cho hắn niềm tin và hy vọng. Đây là chi tiết nghệ thuật mang giá trị nhân văn nhân đạo sâu sắc, để lại cho độc giả nhiều suy tư, trăn trở.

Mỗi một hình tượng nhân vật, một chi tiết nghệ thuật đều là tâm tư, tình cảm và dụng ý của tác giả gửi gắm. Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao để cho thị Nở xuất hiện với bát cháo hành bình dị mà lại có giá trị to lớn về cả nội dung và nghệ thuật đối với tác phẩm làm nên thành công và nét độc đáo riêng của nhà văn.

Sau lần gặp nhau vô tình như duyên trời se đã cho hai tâm hồn đồng điệu tìm về với nhau. Trận nôn mửa và cơn sốt bất thường đêm hôm ấy ập đến với Chí khiến cho thị Nở có lòng thương với hắn. Thị nghĩ “Cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình”, thị không thể quên chuyện đêm qua và cũng không nỡ bỏ hắn bởi: “bỏ hắn lúc này thì cũng bạc. Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau! Ăn nằm với nhau như vợ chồng”. Chính lòng thương và tình cảm chân thành thôi thúc thị nấu nồi cháo hành cho Chí để rồi cho hắn được hồi sinh.

Bát cháo hành của thị Nở dành cho Chí là biểu hiện của tình người. Bấy lâu nay Chí bị mọi người xa lánh, bị coi là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nên ai cũng sợ, cũng tránh mặt mỗi khi hắn đi qua, không một ai quan tâm đến sự tồn tại và có mặt của Chí. Chính vì vậy hành động ân cần, chân thành của thị qua bát cháo hành khiến cho hắn ngạc nhiên và cảm động bởi đây là lần đầu tiên hắn được người khác cho, được săn sóc bởi tay một người đàn bà khiến hắn xúc động “mắt hắn hình như ươn ướt”. Giọt nước mắt của phần người trong Chí đã tan chảy, trái tim tưởng chừng như sắt đá đã bắt đầu sống dậy để cảm nhận hương vị cháo hành, hương vị cuộc sống, tình yêu bình dị mà lần đầu tiên hắn được hưởng. Nhờ có bát cháo hành mà thị Nở và Chí Phèo “Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi”, chúng được sống đúng nghĩa làm người, sống đúng bản năng và phẩm chất của mình bấy lâu bị khuất lấp, bị lãng quên nay trỗi dậy mãnh liệt.

Bát cháo hành và tình cảm chân thành của thị cho Chí niềm tin, hy vọng, khao khát muốn trở lại làm người lương thiện và sống một cuộc đời tử tế. “Bát cháo của thị làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây thù?” thị Nở đã mở đường cho hắn để hoàn lương, thị chính là nhịp cầu kết nối hắn với thế giới bên ngoài. Chí đã hồi sinh với khao khát trở lại với cuộc đời bình dị làm một người bình thường như bao người: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao”.

Tuy nhiên bát cháo hành cũng là sự tuyệt vọng của Chí khi hắn bi thị Nở từ chối, bị cự tuyệt quyền làm người. Trong giây phút đau đớn nhất hương cháo hành “thoang thoảng”, thoáng chốc hiện ra khiến cho Chí Phèo chìm sâu hơn vào nỗi tuyệt vọng. Hắn đã ở bên kia cái dốc cuộc đời nhưng đây mới là lần đầu tiên được ăn cháo hành, dù cho là bởi đôi bàn tay của người đàn bà xấu xí ma chê quỷ hờn nhưng dẫu sao vẫn có còn hơn không, dù muộn nhưng vẫn có ý nghĩa đối với cuộc đời hắn. Tưởng rằng được hồi sinh chìm trong hương cháo hành của riêng mình nhưng định kiến xã hội đã tước đoạt đi quyền làm người ấy. Hắn phải gào lên “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này?” tiếng kêu ấy thống thiết và đau đớn đến vô cùng không còn cách nào khác để giải thoát ngoài cái chết. Không có gì bình thường, bình dị như hơi cháo hành đến vậy, bát cháo hành qua cái nhìn và tấm lòng nhân đạo của Nam Cao trở thành một nhát dao cứa rớm máu tâm hồn đã bị tổn thương chai sần nơi Chí để giờ đây hắn chìm đắm trong tuyệt vọng và cái chết. Viết được như vậy chỉ có ngòi bút tài hoa của thiên tài mới làm được điều đó.

Qua chi tiết bát cháo hành cho thấy vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà dòng giống con nhà mả hủi, xấu ma chê quỷ hờn đã vậy lại còn nghèo và dở hơi. Cái xấu của ngoại hình đã hội tụ hết ở thị Nở. Xấu đau xấu đớn xấu xúc phạm người nhìn bởi “Cái mặt của thị đích thực là một sự mỉa mai của hóa công” ấy vậy mà con người ấy lại có tấm lòng nhân hậu, có lòng bao dung, sự cảm thông chia sẻ đối với Chí. Chính những phẩm chất tiềm ẩn ấy đã đưa Chí ra khỏi những tháng ngày tăm tối của quỷ dữ.

Chi tiết bát cháo hành thể hiện cái nhìn nhân đạo nhân văn của Nam Cao. Ông luôn tin vào sự tốt đẹp trong con người lương thiện và khẳng định chỉ có tình người mới cảm hóa được tội ác. Bản chất lương thiện và khát khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên tốt đẹp trong con người không bao giờ bị mất đi dù cho bị quỷ dữ tha mất linh hồn nhưng chỉ cần được thắp sáng bởi ngọn lửa tình người nó lại trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt.

Chi tiết bát cháo hành của thị Nở khiến cho ta liên tưởng nhớ đến bát cháo cám của bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân đó đều là bát cháo bình dị thôn quê, bát cháo của tình người, tình thương ấm áp chỉ có con người mới có được và dành cho nhau. Bát cháo hành tuy chỉ xuất hiện với tư cách là một chi tiết nhỏ thể hiện nội dung tác phẩm nhưng có giá trị lớn, đánh dấu mở đầu cho sự thay đổi tâm lí nhân vật Chí Phèo, là cột mốc bước ngoặt thay đổi cho cuộc đời Chí được sống là chính mình.

Như vậy với tài năng của nhà văn Nam Cao chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm “Chí Phèo” có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Một mặt tố cáo xã hội tàn nhẫn đẩy người nông dân đến bước đường cùng, một mặt ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ. Gập trang sách lại nhưng hình ảnh bát cháo hành với dư vị tình người để lại ám ảnh suy tư và bài học cho độc giả. Trong cuộc sống hãy biết yêu thương, sẻ chia và đùm bọc lẫn nhau và chỉ có tình thương chân thành mới có sức mạnh cảm hóa.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 7
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 7
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 7
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 7

8


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 8

Trong lí luận văn học có nói: “Chi tiết là hạt bụi vàng của tác phẩm” một tác phẩm văn học có giá trị, phải được làm nên từ những chi tiết xuất sắc, có ý nghĩa và ấn tượng trong lòng người đọc. Để nhắc đến điều này, không ai không nghĩ tới Nam Cao, người cả đời luôn trăn trở về vấn đề “sống và viết”. Nam Cao có biệt tài viết ra truyện từ những điều nhỏ nhặt, vì vậy mỗi chi tiết trong truyện của Nam Cao đều ấn tượng và mang triết lý cao. Nhắc đến điều đó không thể không nghĩ tới truyện ngắn Chí Phèo, một trong những tác phẩm xuất sắc, để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc và đặc biệt là chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm.

Chí Phèo ngày trước là một con người hoàn toàn khác, vốn sinh ra đã không gặp may mắn, mồ côi “một người đi thả ống lươn nhặt được” nhưng Chí Phèo nuôi được dưỡng trong vòng tay của dân làng Vũ Đại, lớn lên bằng tình yêu thương của làng Vũ Đại. Nhưng, số phận đã định đoạt, Chí Phèo từ một anh canh điền hiền như đất, sau khi bị chế độ phong kiến biến đổi, trở thành con người biến chất là một kẻ chuyên đi “rạch mặt ăn vạ” và là con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

Lúc Chí trở về, chẳng ai nhận ra nổi hắn là ai. Một gương mặt gớm ghiếc, với những “nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy” và cả hai cánh tay cũng thế. Hắn không chỉ bị biến đổi về thể xác, cả nhân tính cũng bị biến đổi. Ngày Chí trở về đã bị Bá Kiến mua chuộc, trở thành một cánh tay đắc lực, giúp Bá Kiến như hổ mọc thêm cánh, Chí Phèo chính thức là một con quỷ dữ, là ác nhân, khi “càng ngày càng hung hãn, ngang ngược và say triền miên” hắn chuyên cướp đoạt và dọa nạt, và gần như đã bị chiếm mất trái tim và khối óc, hắn hành động trong cơn say và mê muội, chỉ biết đâm chém và dọa nạt người ta. Một Chí Phèo từng hiền như đất, một anh nông dân đến việc bóp chân cho bà ba còn thấy sợ, thì giờ đây đã bị biến đổi hoàn toàn. Một con người khác, trái tim khác, và nhân tính khác, và không ai trong làng Vũ Đại có thể đến gần hắn, và họ luôn xa lánh hắn và sợ hãi gớm ghiếc với bản chất của Chí Phèo. Và tưởng như Nam Cao không còn yêu thương gì với nhân vật mình nữa, thì ngay sau đó, ông đã để nhân vật mình thức tỉnh, với chính ngòi bút của mình.

May mắn đến với Chí, hôm ấy Chí gặp được Thị Nở. Một người đàn bà mà có thể nói “đôi lứa xứng đôi” với Chí Phèo. Thị vốn dĩ là người có dòng dõi ma hủi, không thể tiếp xúc với ai. Lại có đặc điểm “xấu ma chê quỷ hờn” xấu xí, ngẩn ngơ và ế chồng. Lúc Thị ra sông kín nước ngồi nghỉ rồi ngủ quên, thì không may gặp Chí Phèo. “Họ ăn nằm với nhau, rồi cùng ngủ say dưới trăng. Đến nửa đêm, Chí Phèo đau bụng, nôn mửa. Thị Nở dìu hắn vào trong lều, đặt lên chõng, đắp chiếu cho hắn rồi ra về..”

Sáng hôm sau, Chí bị ốm nặng, “hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn” “người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc” còn “ruột gan lại nôn nao lên một tí”. Trận ốm như một cơn gió ghé ngang cuộc đời Chí, một cuộc dư trấn sẽ để lại cho Chí nhiều suy nghĩ thiết thực hơn. Và Chí cũng tỉnh ngộ ra một chút, lần đầu tiên hắn nhận ra sự xuất hiện của cuộc sống đời thường, nhờ việc bị ốm, hắn mơ màng nhìn lại cuộc đời, nghĩ lại thời trai trẻ, ước mơ của mình, “chồng cuốc mướn, vợ dệt vải”. Chí tỉnh dậy, thấy mình đã già nhưng vẫn còn cô độc, hắn biết mình đã bước sang cái dốc bên kia của cuộc đời, hắn không còn thời gian sửa soạn nữa. Nỗi sợ cứ lần lượt ập đến, hắn sợ cô độc biết bao nhiêu. Càng sợ hắn càng mong muốn nhận được một điều gì đó, hắn muốn được sống với con người, hắn sợ, nỗi sợ cứ ngày một lớn dần, chồng chất. Rồi thị vào, thị mang cho Chí “bát cháo hành” giản dị, mộc mạc mà chân thành.

Bát cháo hành là chi tiết đặc biệt, là chất xúc tác khiến tâm hồn Chí bừng tỉnh sau một cơn say rất dài. “Xưa nay nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì” rồi “hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng”, hắn nhận ra tình thương Thị dành cho hắn trong bát cháo. Hắn nhận ra hóa ra sau tất cả điều này mới là quan trọng nhất, nỗi sợ cô độc trong lòng hắn như được xoa dịu. “Trời ơi cháo mới thơm làm sao! Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người ta nhẹ nhõm” bát cháo thức tỉnh hắn, bát cháo hành khiến hắn nghĩ tới bà ba “con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại cứ bắt bóp lên trên, trên nữa”, người đàn bà đã khiến hay rơi vào hoàn cảnh tai đoạn này. Món quà ý nghĩa thị dành cho Chí, một món quà vô giá là tình thương thật lòng.

Chưa bao giờ Chí cần Thị như lúc này, chưa bao giờ Chí thấy “Trông thị thế mà có duyên”. Bát cháo khiến hắn “đẫm bao nhiêu mồ hôi”, bát cháo khiến hắn trở thành một tình lang thật sự, “hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ” ôi chao! Có bao giờ người ta đáng yêu được như thế, hẳn tâm hồn khô cằn ấy phải sống lại rồi, hẳn trái tim phải biết muốn yêu và được yêu rồi, hẳn phải mệt mỏi lắm rồi hắn mới như vậy. “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện” bát cháo hành giúp hắn nhận ra mình không thể sống mãi trong sự cướp giật, hắn muốn được thành người lương thiện, được sống với mọi người, được yêu thương và chăm sóc cho Thị Nở. Chi tiết bát cháo hành thực là một bước ngoặt quan trọng trong suy nghĩ của Chí, nhờ đó Chí đã thay đổi, đã thức tỉnh và tan biến đi cái chất quỷ dữ trong sự u mê của Chí.

Nhưng đó chưa phải là kết thúc, chi tiết bát cháo hành còn kéo dài đến mãi về sau, và nó sẽ tìm được cho Chí một lối thoát duy nhất trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Thị Nở không thể ở tiếp với Chí, Thị bị con “khọm già” bà cô của mình nhiếc móc, không cho chung sống với Chí. “Thị ngoay ngoáy cái mông đít đi ra về” thị bỏ chí, bỏ hẳn, thị dứt tình với Chí. Lúc ấy “Hắn đuổi theo thị, nắm lấy tay” nhưng mau chóng nhận lại sự khước từ của Thị. Chao ôi! Cái lúc ấy, con đường quay trở về lương thiện của Chí như bị lấp hẳn, Chí đau đớn, Chí muốn trả thù nhưng lại chỉ nhận ra “cứ thoang thoảng cái hơi cháo hành”, hơi cháo hành giúp hắn nhận ra bản chất thực của cuộc sống, người gieo cho hắn nỗi đau là Bá Kiến chứ không phải Thị, kẻ khiến hắn mất tất cả là Bá Kiến, nhân hình, nhân tính, hắn bán cho Bá Kiến mất rồi, hắn bị hủy hoại rồi, hủy hoại thực sự.

Hơi cháo hành dẫn Chí đến nhà Bá Kiến. Hơi cháo cứ quấn lấy hắn, khiến hắn phải thốt lên “Tao muốn làm người lương thiện” nhưng đã muộn mất rồi, hắn chỉ chẳng còn cách nào khác, “Ai cho tao lương thiện, làm thế nào mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa” Chí chết, hắn chết trên ngưỡng cửa của sự sống và cái chết, giữa cái ác và cái thiện. Và suy cho cùng, chỉ có cái chết mới giải thoát hắn khỏi đau đớn. Và cảm ơn bát cháo hành, đã giúp hắn thức tỉnh, giúp hắn có được một chút yêu thương của kiếp này, và cũng giúp hắn chết, cái chết toàn tâm, toàn ý, chết cùng với Bá Kiến.

Đọc Chí Phèo chắc chắn ta không thể quên chi tiết bát cháo hành, chi tiết rất hay và xuất sắc, bộc lộ được một ngòi bút nhân đạo từ trong cốt tủy của Nam Cao. Người ta vẫn thấy Nam Cao lạnh lùng và tàn nhẫn với nhân vật của mình lắm, nhưng thực ra là không, Nam Cao không yêu nhân vật, không cảm thông cho Chí, sao có thể để Chí thức tỉnh được như vậy. Mỗi chi tiết đắt giá được xem như một chữ trong thơ tứ tuyệt, và chi tiết bát cháo hành xứng đáng với điều đó.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 8
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 8
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 8
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 8

9


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 9

Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến kiệt tác Chí Phèo với sự thành công xuất sắc về mặt nội dung. Nhưng bên cạnh đó, để tạo nên thành công cho tác phẩm, cũng không thể không nhắc đến những đóng góp về phương diện nghệ thuật. Trong đó các chi tiết nghê thuật có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là chi tiết bát cháo hành Thị Nở mang cho Chí Phèo.

Chí Phèo vốn là một đứa trẻ mồ côi, lớn lên là một anh nông dân lương thiện, có những ước mơ, khát vọng đẹp đẽ. Nhưng vì sự ghen tuông của Bá Kiến khi bắt gặp Chí bóp chân cho bà ba nên Chí đã bị Bá Kiến đẩy vào nhà tù thực dân bảy, tám năm. Nhà tù thực dân đã nhào nặn ra một Chí Phèo với ngoại hình gớm giếc: cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, trên người đầy những hình xăm trổ và lấy nghề rạch mặt ăn vạ để sống. Trên mặt hắn là những vết sẹo dài, lằn sâu không gì có thể xóa bỏ được. Chí đã bị xã hội thực dân nửa phong kiến làm cho tha hóa về nhân hình và nhân tính.

Trong một lần Chí Phèo đi uống rượu từ nhà Tư Lãng trở về, hắn không về thẳng nhà như mọi lần mà ra bờ sông tắm. Cũng chính lúc ấy, Chí nhìn thấy Thị Nở đang nằm ở gốc chuối. Bất chấp những lời kêu la của Thị Nở, trong khung cảnh của đêm trăng sáng giữa Chí Phèo và Thị Nở đã nảy sinh mối tình đẹp đẽ, nhưng chỉ vẻn vẹn trong năm ngày. Nửa đêm hôm ấy, Chí Phèo bị cảm nặng, Thị Nở dìu Chí vào lều và sáng hôm sau mang cho Chí một bát cháo lớn với ý nghĩ: Thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi là hôm nay nhọc đừ. Phải cho hắn ăn tí gì mới được. Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành, ra được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người ngay đó mà … . Trong ý nghĩ ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình thương, sự quan tâm, lo lắng rất đỗi chân thành giữa con người với con người. Chi tiết bát cháo hành chứa đựng nhiều ý nghĩa, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Đối với Thị Nở, bát cháo hành thể hiện ý thức trách nhiệm của Thị Nở với Chí Phèo: mình bỏ hắn lúc này thì cũng bạc. Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau . Nhưng không chỉ vậy, bát cháo còn là tình yêu thương chân thành, thật lòng của Thị Nở dành cho Chí Phèo: Cái thằng liều lĩnh ấy kể ra cũng đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình. Như vậy vừa xuất phát từ trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa xuất phát từ tình yêu thương, Thị Nở đã đem bát cháo đến cho Chí Phèo.

Đối với Chí Phèo, trước hết nó là bát cháo giúp hắn giải cảm, giúp hắn vượt qua trận ốm. Nhưng nếu bát cháo hành chỉ có ý nghĩa như vậy thôi thì nó đã không xứng danh là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Bát cháo hành đã giúp Chí thức tỉnh, đi từ cõi quên trở về cõi nhớ, giúp Chí giải độc tâm hồn, dần lấy lại phần nhân tính trong mình. Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt, đó là sự xúc động tột cùng của Chí khi lần đầu tiên trong đời nhận được sự quan tâm, săn sóc từ một người khác, mà đây lại là một người đàn bà. Từ trước đến nay hắn chưa bao giờ tự nhiên có cái gì, mọi thứ đều do dọa nạt, cướp giật mà có.

Từ đó cũng cho thấy sự thê thảm, bị gạt ra khỏi lề xã hội của Chí trong hoàn cảnh hiện tại. Không chỉ vậy, bát cháo hành còn gợi dậy trong Chí tình yêu, khát khao được làm hòa với mọi người, được trở về làm người lương thiện: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao ! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Như vậy, chỉ với một bát cháo hành nhưng đã góp phần thức tỉnh phần nhân tính bị vùi lấp bấy lâu nay của Chí Phèo. Đồng thời bát cháo hành cũng là hương vị hạnh phúc, tình yêu thương hiếm hoi, muộn màng mà Chí được nhận. Cùng với bát cháo hành, tình yêu thương đã giúp thức tỉnh bản chất lương thiện trong Chí Phèo.

Bát cháo hành là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần thúc đẩy mạch truyện tiếp tục phát triển. Qua đó còn khắc họa nét tính cách, tâm lí và bi kịch của cuộc đời Chí Phèo. Đồng thời chi tiết này cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Nam Cao: ông luôn có niềm tin vào phần con người, phần nhân tính của mỗi con người, chỉ cần trong những điều kiện và hoàn cảnh thích hợp nhất định con người tha hóa cũng sẽ được cảm hóa.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 9
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 9
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 9
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 9

10


Bình An

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 10

Đến với đề tài nông thôn, nông dân, Nam Cao tuy là người đến sau nhưng bằng tất cả tài năng, tâm huyết cũng như sự am hiểu của mình về đời sống người nông dân, nhà văn Nam Cao vẫn khẳng định được chỗ đứng vững chắc của mình trong mảng đề tài dường như đã rất quen thuộc đó. Chí Phèo là tác phẩm hiện thực xuất sắc nói về bi kịch tha hóa của con người. Và chắc khi đọc truyện ngắn này, sẽ có rất nhiều độc giả ấn tượng với hình ảnh bát cháo hành mà Thị Nở dùng để giải cảm cho Chí Phèo.

Chi tiết bát cháo hành không chỉ mang ý nghĩa tả thực, đó là món ăn Thị Nở chuẩn bị cho Chí Phèo nhằm giúp Chí Phèo lấy lại sức lực sau cơn ốm thập tử nhất sinh mà còn mang rất nhiều ý nghĩa nhân sinh sâu sắc đối với cuộc đời của Chí Phèo. Sau khi uống rượu say ở nhà Tự Lãng, Chí Phèo đã đi ra bờ sông, ở đây Chí đã gặp Thị Nở- người đàn bà xấu xí, nhà có mả hủi bị cả làng xa lánh đi lấy nước nhưng ngủ quên bên bờ sông. Trong hơi men, Chí Phèo và Thị Nở đã có một đêm trăng gió. Buổi sáng hôm sau, Chí Phèo bị cảm, Thị Nở vì thương tình chí chỉ có một mình và nếu như Thị cũng bỏ hắn lúc này thì “cũng bạc” nên Thị đẫ về nhà nấu cháo hành và mang sang giúp Chí giải cảm.

Bát cháo hành trước hết mang ý nghĩa của một món ăn có khả năng giải cảm, hơi nóng của bát cháo có thể làm con người ta toát mồ hôi mà giải cảm. Chí Phèo trong cơn ốm bị mất hết sức lực, bát cháo của Thị thời điểm này có thể giúp chí lấy lại sức lực mà trận cảm đã vắt kiệt. Đặc biệt hơn, bát cháo hành của Thị còn mang nhiều ý nghĩa đặc biệt hơn đối với chí. Bát cháo hành còn là biểu tượng của hơi ấm tình người duy nhất còn xót lại ở làng Vũ Đại.

Trong khi tất cả mọi người trong làng Vũ Đại đều khinh ghét, xa lánh, phủ nhận quyền làm người của Chí thì vẫn có người quan tâm đến Chí chân thành như thế. Có thể thấy cháo hành ở đây là món ăn hết sức bình thường mà bất cứ gia đình nào dù nghèo khó nhất cũng có thể chế biến nó. Ta không thể biết món cháo của Thị có ngon không nhưng chắc hẳn nó thấm đượm tình người. Hơi ấm bát cháo cũng như sự ấp áp của tình người nơi THị đã khiến Chí cảm động vì “trước đến giờ đã ai cho hắn cái gì. Muốn cái gì hắn phải dọa nạt hoặc cướp giật”.

Bát cháo hành của Thị Nở còn giúp Chí Phèo thức tỉnh về nhân tính, đánh thức phần lương tri đã ngủ quên bên trong Chí. Chí Phèo bỗng nhận thức được những điều tồi tệ mà mình gây ra cho mọi người, hắn ăn năn, hối hận và khát khao được làm hòa với mọi người, muốn trở về với cuộc sống lương thiện. Bát cháo hành đơn giản như vậy nhưng lại có sức mạnh vô cùng lớn lao, nó đã đưa một con quỷ dữ làm việc xấu không gớm tay trở về với cuộc sống lương thiện.

Tuy nhiên, nếu theo dõi truyện ngắn thì ta cũng có thể thấy chính bát cháo hành đã đẩy cuộc đời Chí đến đỉnh cao của bi kịch, Trên thực tế, bi kịch chỉ xảy ra khi người ta ý thức sâu sắc về cuộc sống đau khổ, đọa đầy của mình, Khi còn là con quỷ dữ Chí Phèo đã không hề ý thức được về việc này mà chỉ làm việc như một tên tay sai đắc lực của Bá Kiến. Khi đã được thức tỉnh về nhân tính, lời mắng chửi mà bà cô Thị Nở được Thị Nở quăng vào mặt Chí như đòn chí mạng đối với những khát khao đang bùng cháy mãnh liệt trong Chí.

Chí bỗng chốc nhận thức được con đường trở về làm người lương thiện đã không thể quay lại, với tất cả tội ác mà Chí đã gây ra thì Chí không thể làm hòa với mọi người, và Thị Nở người mà Chí hi vọng sẽ là cầu nối giúp Chí làm hòa với mọi người cũng không thể chống lại được những định kiến mà người đời dành cho Chí.

Bát cháo hành đã thức tỉnh nhân tính bên trong con quỷ dữ như Chí Phèo nhưng nó cũng đẩy Chí chìm sâu vào bi kịch, tuyệt vọng. Có thể nói bát cháo hành là chi tiết đặc sắc nhất trong truyện ngắn Chí Phèo, qua đó truyền tải được bao thông điệp nhân văn mà nhà văn Nam Cao muốn truyền tải.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 10
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 10
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 10
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 10

Continue Reading

Trending

bếp từ Cata bếp từ Canzy