Connect with us

Tin Tức tổng hợp 24h

Top 30 Cảnh quan đẹp đến mức khiến bạn phải ngạc nhiên

“Cuộc đời là những chuyến đi”. Quả đúng như vậy, du lịch là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người. Hãy cùng Toplist.vn điểm qua những cảnh đẹp trải dài trên khắp thế giới có một không hai nhé!

Published

on

Cánh đồng hoa tulip (Hà Lan)

Hà Lan là quê hương của loài hoa kiêu sa tuyệt đẹp tulip. Nơi đây nổi tiếng với những cánh đồng hoa tulip đủ sắc màu trải dài bất tận. Nếu có cơ hội nhìn từ trên trực thăng xuống, nhiều người có lẽ trầm trồ ngây ngất vì bức tranh muôn màu muôn vẻ, giống như những suối hoa rực rỡ, đẹp ngoài sức tưởng tượng của con người.

Những ngày lễ hội. Đâu đâu cũng có thể bắt gặp những cánh đồng hoa trải dài bất tận với hàng ngàn, hàng vạn bông hoa đủ chủng loại và sắc màu. Đi Hà Lan dịp lễ hội hoa, du khách không thể bỏ qua điểm đến: Làng cổ Zaanse Schans, với những khu vườn đầy màu sắc của hoa, những chiếc cối xay gió cổ, xưởng sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, những món ăn đặc sản địa phương, bảo tàng nhỏ trong làng đủ để du khách có thể nhìn ngắm, tham quan, tìm hiểu lịch sử, văn hóa…

Vừa có vẻ ngoài tươi đẹp, loài hoa này còn có hương thơm ngào ngạt, quyến rũ. Hoa Tulip luôn được mọi người biết đến là một cánh đồng hoa đầy đủ màu sắc rực rỡ, tươi trẻ và được trồng ở đất nước xinh đẹp Hà Lan-một thành phố từng được biết đến là thành phố hạnh phúc nhất thế giới.

Cánh đồng hoa Tulip rực rỡ sắc màu như đang khẳng định và là minh chứng cho điều đó. Bạn có thể cảm nhận rằng, giữa những cánh đồng bao la, với những chiếc cối xay gió, bao bọc xung quanh nó là một dải lụa đầy đủ màu sắc rự rỡ của những tầng tầng lớp lớp hoa Tulip. Một cảnh đẹp kì diệu và thanh bình. Nét đẹp yêu kiều, diễm lệ của cánh đồng hoa Tulip Hà Lan cần được mọi người ngày càng trân trọng và gìn giữ nét đẹp đó. Có thể thấy với muôn vàn sắc hoa Tulip đã tạo nên vẻ đẹp yêu thiên nhiên của con người nơi đây. Cho thấy được cảm giác thanh bình tại thành phố hạnh phúc là điều mà hàng ngàn triệu người trên thế giới hằng mơ ước, cần mong được một lần đến với thành phố đáng mến này.

Hãy mang vẻ đẹp của những sắc hoa tươi đẹp hòa bình này đến với mọi người, để mọi người có thể cảm nhận được vẻ đẹp bình yên và ấm áp của con người và sự quyến rũ của sắc hoa nới đây. Cánh đồng hoa Tulip chính là một vẻ đẹp du lịch của đất nước Hà Lan được mọi người trên toàn thế giới biết đến và mong một lần được đặt chân đến mảnh đất tươi đẹp này.

Cánh đồng hoa Tulip
Cánh đồng hoa Tulip

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2


Huyền YS

Hang động băng Mendehall (Alaska)

Đây là một dòng sông băng dài bất tận, mang trong mình vẻ đẹp kì ảo, lôi cuốn làm ta liên tưởng ngay tới hang động băng. Đứng nơi đây ta sẽ tự mình cảm nhận được vẻ đẹp kì vĩ của tạo hóa. Các hang động ở đây có sắc xanh huyền bí được tạo thành bởi các cấu trúc tinh thể độc đáo của băng và phản xạ ánh sáng biến nơi đây thành địa điểm các du khách đều muốn đặt chân đến một lần trong đời.

Đến nay dưới tác động của nóng lên toàn cầu, các tảng băng vĩnh cửu tại khu vực này đang co xu hương tan chảy, gây ra hiện tượng băng rơi tử các tảng băng khổng lồ. Việc tiếp cận hàng động băng đã trở nên vô cùng khó khăn, chính vì vậy mà du khách nên đi cùng những hương dẫn viên du lịch chuyên nghiệp, để đảm bảo an toàn cũng như có một chuyến đi thú vị, khi có thể khám phá và chụp ảnh với hang động này.


Sông băng Mendenhall (tiếng anh là Mendenhall Glacier) là một trong 38 sông băng nổi tiếng của “cánh đồng băng” Juneau- thành phố và quận Juneau là một thành phố thống nhất nằm bên kênh Gastineau ở Panhandle của tiểu bang Alaska. Sông băng Mendenhall trải dài 13 dặm (tương đương 21km) ngang qua thung lũng Mendenhall và kết thúc tại sông Mendenhall, đây cũng là điểm đến phổ biến của du khách. Trong những năm gần đâyTại đây một trung tâm du lịch đã được thành lập nhằm mục đích hướng dẫn và phục vụ du khách, 90% lượng du khách đến tham quan chỉ có thể ngắm sông băng Mendenhall qua tầm nhìn từ sân thượng của trung tâm du lịch, ngoài ra họ không thể đến gần sông băng hơn được nữa. Du khách bị hạn chế tiếp cận sông băng Mendenhall do lý do an toàn.

Kể từ khi phần mái của động băng sụp đổ vào năm 2014 mặc cho vẻ đẹp “ma mị” cực hiếm thấy của Mendenhall, các du khách rất khó có thể đến gần hoặc tiến vào nơi này. Bề ngoài sông băng được bao phủ bởi một màu trắng xóa và đó cũng là tất cả những gì bạn có thể nhìn thấy nếu nhìn từ trung tâm du lịch. Tuy nhiên trên thực tế, tất cả các sông băng đều có màu xanh sáng và bên trong các động băng thì có màu xanh dương trong trẻo như được lát hoàn toàn bằng đá quý. Màu sắc này được du khách ưu ái đặt tên là “màu xanh sông băng”, chúng là kết quả của không khí bị ép bởi băng giá và tuyết, các màu sắc khác đều bị hấp thụ bởi băng theo thời gian.

Mặc dù du khách rất khó để phát thiện điều này, nhưng diện tích của mặt băng cũng như các khu vực lân cận sông băng Mendenhall đang thu hẹp từng ngày. Số lượng các sông băng đã giảm xuống kể từ năm 1500 và phần lớn sự thay đổi về diện tích diễn ra vào năm 1958, với tổng diện tích thu hẹp lên đến 2.5 dặm (khoảng 4.02km). Do đó hang động băng Mendenhall chỉ chào đón những nhà thám hiểm nào thật sự can đảm. Cũng chinh vì vậy mơi đây đã trở thành một điểm pose ảnh đẹp và độc trên thế giới khiến bất kì ai cũng muốn được đặt chân tới đây.

Hang động băng Mendehall (Alaska)
Hang động băng Mendehall (Alaska)

3


Huyền YS

Đường hầm tình yêu (Ukraine)

Đường hầm tình yêu ở Ukraine được tạo thành từ những cây bụi xanh mát, tạo thành đường đi rợp bóng thành vòm. Du khách bước đi trên đường hầm như lạc vào thế giới cổ tích thơ mộng, lãng mạn. Con đường hầm này trải dài đến tận 2,8km vì thế khi đển đây chúng ta sẽ có cảm giác như bước đi trên con đường bất tận. Trước đây nó đã từng là con đường dành cho tàu hỏa di chuyển nhưng hiện nay con đường trở thành địa điểm du lịch, chuyên dành cho du khách tham quan đến khám phá.

Mỗi mùa con đường này lại mang một vẻ đẹp khác nhau, bởi lẽ thực vật sẽ thay lá, khoác lên mình sắc màu riêng vào những dịp xuân, hạ, thu, đông. Đặc biệt vào mùa thu, con đường trở nên vô cùng ấn tượng, đặc sắc với hàng cây rụng lá, phủ kín một thảm rừng. Những du khách tới đây có thể nguyện ước, cầu mong cho tình yêu đôi lứa của mình được vẹn tròn, viên mãn. Đây là quan niệm, truyền thuyết được người dân tin tưởng, truyền miệng nhau từ rất lâu đời.

Để đến được đường hầm tình yêu, trước tiên, du khách book vé máy bay sang Ukraine, sau đó di chuyển thẳng tới thị trấn Klevan. Tới đây bạn có thể hỏi người dân địa phương địa điểm của đường hầm tình yêu, hay còn được biết với tên gọi chính xác là Tunnel of Love. Đây là địa điểm du lịch rất nổi tiếng, cho nên du khách không khó để tìm kiếm. Sau khi xây dựng sau ray xe lửa, những bụi cây mọc lên tự nhiên bao quanh lấy cả con đường. Khi đi bộ trên đó tạo cho ta cảm giác như đang đi trong một con đường hầm trên mặt đất.

Nơi này gần thị trấn Klevan(Ukraine) nổi tiếng bởi khung cảnh thần tiên chẳng khác nào trong truyện cổ tích. Truyền thuyết kể rằng nếu đôi lứa nắm tay nhau trên đường ray xe lửa được cây xanh bao phủ này sẽ bên nhau mãi mãi, nơi này thực sự là một địa danh lãng mạn dành cho các cặp đôi yêu nhau trải nghiệm.

Đường hầm tình yêu (Ukraine)
Đường hầm tình yêu (Ukraine)

4


Huyền YS

Sa thạch The Wave- Arizona (Mỹ)

Được miêu tả là “một trong những kì quan địa chất đẹp nhất thế giới”. Được tạo nên từ các cồn cát xếp chồng lên nhau cùng sự lắng đọng của muối canxi tạo nên những đường cong độc đáo, tuyệt đẹp. Nơi “độc nhất vô nhị” này là một nơi đáng kinh ngạc và vẻ đẹp kỳ vĩ của nó có thể một phần do sự thiếu vắng bóng người ở đây. Ẩn mình trong sa mạc Arizona là vùng sa thạch độc đáo mang tên Làn sóng. Làn sóng bao gồm nhiều máng hình chữ U đan xen nhau của các phiến sa thạch hình thành từ kỷ Jura, tính đến nay có lịch sử lên tới 190 triệu năm. Nó được coi là một món quà vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất này.

Núi đá hình thành từ các cồn cát Navajo Sandstone đã vôi hóa theo chiều dọc và chiều ngang. Nhờ sự xói mòn của nước và gió, vùng lòng chảo này xuất hiện những đường vân uốn lượn như những ngọn sóng, cứng rắn theo thời gian, tạo nên một cảnh quan hết sức hùng vĩ, đúng như tên gọi của nó. Với hình dáng nhấp nhô, từng lớp uốn lượn đầy màu sắc. Phải mất khoảng ba giờ đi lang thang khu vực xung quanh mới phát hiện ra khu vực bí ẩn này. Được gọi bằng cái tên “vùng đất ngoài hành tinh”, Arizona Mỹ đã thực sự là điểm đến lý tưởng không chỉ của những vị khách du lịch mà đặc biệt thu hút sự tò mò khám phá của các nhiếp ảnh gia.

Tới đây những nhiếp ảnh gia đã thực sự có được những tác phẩm vô cùng độc đáo, một khung cảnh đẹp ngỡ ngàng khiến không ít người phải trầm trồ. Buổi sáng đến giữa trưa là thời điểm thích hợp nhất để chụp ảnh. Ánh sáng mặt trời ở từng thời điểm khác nhau phản chiếu xuống làn sóng sẽ cho ra những tấm ảnh mang màu sắc khác nhau. Dường như đó không phải là ảnh chụp những hòn đá thô cứng mà đó là tấm ảnh ghi lại khoảnh khắc uốn lượn của các dãy lụa màu kỳ diệu.

Sa thạch The Wave- Arizona (Mỹ)
Sa thạch The Wave- Arizona (Mỹ)

5


Huyền YS

Cánh đồng muối Salar de Uyuni (Bolovia)

Đây là cánh đồng muối tự nhiên lớn nhất trên thế giới. Không chỉ cung cấp muối cần thiết cho người dân nơi đây và để bán ra thị trường, nơi đây còn là một thắng cảnh đẹp. Vào mùa đông nơi này khô ráo giống như sân trượt băng nghệ thuật còn mùa hè lại ngập nước trông rất đẹp. Cánh đồng muối này được du khách ví như một tấm gương soi khổng lồ. Salar de Uyuni ở Bolivia không chỉ là nơi du lịch mà còn là để chiêm ngưỡng sự khổng lồ và màu sắc tuyệt đẹp của cánh đồng muối. Salar de Uyuni là nơi của những cái nhất – cánh đồng muối lớn nhất thế giới, nơi lưu trữ nhiều chất li-ti nhất, nơi tốt nhất trên thế giới để đo kích thước vệ tinh nhân tạo – tóm lại: Đó là chiếc gương của bầu trời. Salar de Uyuni nằm ở khu vực Tây Nam của Oruno và Potosi, gần dãy núi Andes ở độ cao 3.650m.

Cách đây hơn 40.000 năm khu vực này là một phần của hồ Minchin khổng lồ thời tiền sử. Theo thời gian, hồ dần cạn và lộ ra 2 hồ nhỏ (Poopo và Uru Uru) và 2 sa mạc muối (Salar de Coipasa và Salar de Uyuni). Salar de Uyuni lớn hơn Salar de Coipasa và có diện tích là 10.582km2 (4.085 dặm 2) lớn gấp 25 lần so với cánh đồng muối Bonneville ở Utah.


Salar de Uyuni không chỉ là một nơi nổi tiếng với khách du lịch mà còn nổi tiếng về lượng muối cung cấp. Các thợ mỏ làm việc tại Salar sản xuất tới 25.000 tấn muối/năm; vẫn ít hơn nhiều so với 10 tỷ tấn muối mà Salar de Uyuni cung cấp. Ở Salar de Uyuni muối được thu hoạch theo cách truyền thống: Muối được chất đống thành gò nhỏ để bay hết hơi nước, sau đó sấy khô trên lửa và cuối cùng là thêm i-ốt vào trước khi được đưa ra nơi khác để đóng gói. Salar de Uyuni còn lưu trữ một nửa lượng li-ti của thế giới, được dùng làm pin li-ti năng lượng cao. Đây là nguồn tài nguyên chưa được khai thác cho đến ngày nay.

Hy vọng rằng khi một nhà máy khai thác khoáng sản được xây dựng sẽ không làm mất đi vẻ đẹp kỳ ảo của Salar de Uyuni. Không khó để tưởng tượng Salar de Uyuni có bề mặt tuyệt hảo để thử nghiệm và hiệu chuẩn vệ tinh nhân tạo hay cụ thể hơn là dụng cụ cảm biến từ xa. Bầu trời trong xanh, không khí khô, độ lệch độ cao tối thiểu, bề mặt khổng lồ, nhẵn mịn và phản xạ tốt vào mùa mưa, tất cả đã khiến cho Salar de Uyuni là nơi hiệu chuẩn vệ tinh tốt hơn gấp 5 lần so với bề mặt đại dương.

Vào những ngày mưa mùa đông cả sa mạc muối biến thành một hồ nước nông với bề mặt nhẵn, nói cách khác như một chiếc gương khổng lồ. Mỗi năm một lần vào tháng mười một, Salar de Uyuni là nơi sinh sản cho ba loại hồng hạc Nam Mỹ là: Hồng hạc Chi Lê, James và Andean. Thức ăn của hồng hạc là những loại vi khuẩn bị thu hút bởi các mỏ khoáng sản và kali bao phủ hồ muối như một vòng tuyết. Phong cảnh luôn thay đổi và khó mà đoán trước được, nước hồ và những tảng đá ban đầu có màu đỏ, sau chuyển qua màu ngọc lam và xanh lá với khoáng chất và vi khuẩn. Quần thể sinh vật ở đây cũng rất kỳ lạ, chưa kể đến môi trường sống cằn cỗi và đầy gió.

Cánh đồng muối Salar de Uyuni (Bolovia)
Cánh đồng muối Salar de Uyuni (Bolovia)

6


Huyền YS

Bãi biển đỏ (Trung Quốc)

Được gọi là Bãi biển đỏ bởi đây là đầm lầy cỏ biển quí hiếm tuyệt đẹp và được bao phủ bởi một loài cỏ dại đỏ. Loài cỏ này bắt đầu mọc và phát triển nhanh từ tháng tư và tháng năm luôn giữ sắc xanh trong suốt mùa hè như bao loài cỏ bình thường khác. Nhưng vào mùa thu lại chuyển sang màu đỏ rực trông từ xa như một tấm vải đỏ mịn màng. Bởi vậy tháng chín là thời điểm du khách đến đây tham quan nhiều nhất.

Du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi chiêm ngưỡng một màu đỏ trải dài như bất tận trên bãi biển độc đáo này. Màu đỏ này được tạo ra nhờ một loại cỏ cực quý hiếm. Nếu không có lớp cỏ này, khu đầm lầy nhìn qua không có gì đặc biệt. Mỗi mùa hè, lớp cỏ này vẫn mọc xanh tốt như các loại cỏ khác. Chỉ khi mùa thu đến, chúng mới chuyển dần sang màu đỏ thẫm, tạo nên một cảnh quan siêu thực, khiến du khách như bị choáng ngợp khi ngắm nhìn.

Bãi biển đỏ tuyệt đẹp này nằm ở Bàn Cẩm, tỉnh Liêu Ninh, thuộc đông bắc Trung Quốc. Nơi đây cũng được coi là vùng đất ngập nước lớn nhất và tốt nhất bảo vệ những bãi đầm lầy hiếm có, quý giá của thế giới. Màu đỏ đặc trưng biển này chính là bắt nguồn từ một loại cỏ mọc trên bãi đất hỗn hợp kiềm và muối ấy. Vùng đất ngập nước này cũng đã thu hút số lượng lớn các loài chim hoang dã quý hiếm, bao gồm sếu đỏ và mòng biển, 100 km vuông của đầm lầy lau sậy trên biển đều chuyển một màu đỏ trong suốt tháng 9. Bởi vậy tháng 9 là thời điểm tốt nhất cho du khách khi muốn tận mắt thưởng ngoạn thắng cảnh tuyệt đẹp này.

Hầu làm tan biến khu vực bãi biển đỏ này thuộc tìm đến khu bảo tồn đọng thiên nhiên, và bạn đọc quan không thành công phép tham quan. Nhưng cảnh quan quá hài hòa chưa được nén nổi sự đặt ra câu hỏi của người xem du lịch chắc chắn trở thành phố Bàn Cẩm quyết định bật một phần phân phối tới tận tay người dùng khu bảo tồn, bạn du lịch gồm công dụng tự do tham quan, chiêm ngưỡng lại vừa chụp ảnh.

Bãi biển đỏ
Bãi biển đỏ

7


Huyền YS

Hẻm núi Antelope (Mỹ)

Được xem là kiệt tác của thiên nhiên có khả năng “uốn éo”. Được coi như một viên ngọc sáng có sức mạnh ma thuật, thu hút tất cả sự chú ý của những ai đã ngâm nhìn nó một lần đều phải quay lại nhìn lần nữa.

Hẻm núi Antelope tọa lạc trên vùng đất Navajo, thuộc tiểu bang Arizona, nằm về phía Tây Nam, nước Mỹ. Đây là một trong những địa danh du lịch nổi tiếng hàng đầu của tiểu bang này. Sự độc đáo của hẻm núi đến từ sự cấu tạo, đan xếp của nhiều lớp địa chất khác nhau. Các lớp địa chất này bao gồm sa thạch và đá vôi là chủ yếu, cho nên đạt độ cứng, chắc rất cao. Nhìn vào những bức ảnh này bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy sự bóng loáng, tương phản màu sắc ấn tượng khi có ánh sáng chiếu vào hẻm núi.

Dưới sự tác động, mài mòn của các yếu tố tự nhiên như gió, nước, hẻm núi mang những hình dạng kỳ quái, độc đáo, uốn lượn, tạo thành một bức tranh nghệ thuật điêu khắc cực kỳ ấn tượng. Những khối lồi, khối lõm được bố trí, đan xen với nhau một cách tự nhiên, hài hòa, thu hút hàng triệu khách du lịch, đoàn thám hiểm tới. Sau khi đã đến Arizona tiếp tục tìm đến vùng đất Navajo. Bạn có thể lựa chọn phương tiện ô tô để tiết kiệm thời gian, chi phí cũng không quá đắt.

Đối với những người có nhu cầu tham quan, khám phá hẻm núi này, nên lựa chọn trang phục phù hợp, thoải mái và trang bị những dụng cụ, thiết bị để đảm bảo an toàn cá nhân. Hẻm núi độc đáo Antelope gồm hai phần: Antelope Thượng và Antelope Hạ, mỗi phần lại mang một vẻ đẹp rất riêng. Vẻ đẹp quyến rũ, huyền bí đã nhanh chóng trở thành một trong những hẻm núi nổi tiếng bậc nhất thế giới và thu hút nhiều khách du lịch tới Mỹ.

Hẻm núi độc đáo Antelope
Hẻm núi độc đáo Antelope

8


Huyền YS

Catedral de Marmol- Nhà thờ đá cẩm thạch (Chile)

Catedral de Marmol nằm ở Chile, được hình thành do sự xói mòn của canxi carbonat. Mặt nước là sự kết hợp của các sắc xanh: Xanh lục, xanh ngọc lam, xanh nước biển, xanh da trời, tạo nên khung cảnh đẹp tuyệt mĩ giống như lạc vào thế giới cổ tích. Vẻ đẹp tự nhiên này là do sự xói mòn của canxi cacbonat trên bờ hồ General Carrera. Với tên gọi thánh đường Hổ Phách. Bạn có thể ngắm khung cảnh tuyệt đẹp ở đây bằng một vòng dạo trên thuyền con.


Catedral de Marmol có nghĩa là “nhà thờ đá cẩm thạch”, chỉ với một chiếc thuyền nhỏ và một chiếc máy ảnh trên tay bạn tha hồ có thể thưởng thức cảnh quan tuyệt đẹp này và chụp ảnh đăng lên mạng xã hội để khoe với những người bạn của mình.

Tọa lạc tại Patagonia trên Hồ General Carrera các hang động bằng đá cẩm thạch của Chile (còn được gọi là “Nhà thờ Đá cẩm thạch”) được tạo ra cách đây hơn 6.000 năm bởi những con sóng làm xói mòn đá. Màu sắc tuyệt đẹp của các hang động thay đổi khi mực nước biến động quanh năm.

Catedral de Marmol- Nhà thờ đá cẩm thạch (Chile)
Catedral de Marmol- Nhà thờ đá cẩm thạch (Chile)

9


Huyền YS

Thiên đường hoa ở công viên Hitachi Seaside (Nhật Bản)

Những cánh đồng hoa được mệnh danh là “thiên đường có thật” trên thế giới ở Hitachi Seaside có sức hút lớn với mọi du khách khi đến Ibaraki, Nhật Bản.


Công viên Hitachi (Hitachi Seaside Park hay còn gọi là Hitachi Kaihin Park) cách Tokyo hai giờ lái xe. Công viên nằm cạnh bãi biển Ajigaura tại thành phố Hitachinaka (tỉnh Ibaraki), trên đảo Honshu – đảo lớn nhất Nhật Bản. Ban đầu, công viên có diện tích 70ha, hiện tại được mở rộng lên đến 120ha và đang được quy hoạch mở rộng tiếp tới 350ha. Từ một công viên công cộng, công viên Hitachi trở thành một “bãi đồi” được quy hoạch để trồng rất nhiều giống hoa với những màu sắc khác nhau. Mỗi hoa có từng khu vực riêng để phục vụ cho các lễ hội ngắm hoa hàng năm theo mùa như hoa anh đào, hoa tulip, hoa thủy tiên, hoa anh túc, hoa lily và hoa Nemophila (một loài hoa đặc trưng của châu Mỹ).

Trong lịch sử công viên Hitachi từng là nơi phi công Mỹ tập ném bom vào Thế chiến thứ 2. Mãi đến năm 1973, khu vực này được trao trả lại cho chính phủ Nhật và được xây dựng thành công viên Hitachi ngày nay và là điểm đến nổi tiếng của nhiều khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Hàng năm công viên đều tổ chức lễ hội Hanami Nemophila – lễ hội ngắm hoa. Choáng ngợp trước sắc xanh của những đồi hoa Nemophila là cảm nhận của hầu hết các du khách khi đến đây vào mỗi dịp lễ hội. Nơi đây là “thánh địa” của các loài hoa, khi đến đây du khách có thể thuê xe đạp dạo quanh các con đường hoa, vì nơi đây khí hậu ôn hòa nên là điều kiện thuận lợi cho các loài hoa khoe sắc suốt bốn mùa.

Công viên hiện đang có trên 1 triệu cây hoa thủy tiên được trồng xen giữa những rừng thông xanh. Được giăm củ vào cuối mùa đông bằng những phương pháp chăm sóc đặc biệt, nên khi mùa xuân đến, bên cạnh những con đường mòn quanh đồi là sắc vàng pha trắng đỏ của những bông hoa thủy tiên cánh vàng nhụy đỏ, hay hoa thủy tiên cánh trắng nhụy vàng.


Công viên Hitachi Seaside là một trong những điểm tham quan hấp dẫn khi tới với đất nước Nhật Bản – đất nước mặt trời mọc. Sở hữu cảnh đẹp mê hồn với những đồi hoa màu sắc công viên Hitachi Seaside là một điểm tham quan “phải tới” đối với bất cứ ai khi đến Nhật Bản.

Thiên đường hoa ở công viên Hitachi Seaside (Nhật Bản)
Thiên đường hoa ở công viên Hitachi Seaside (Nhật Bản)

10


Huyền YS

Cực quang phương Bắc (Iceland)

Bắc cực quang là hiện tượng quang học, là hiện tượng thiên nhiên kì thú thường thấy trên bầu trời Bắc cực, thường xuất hiện trên bầu trời về đêm với nhiều màu khác nhau, phổ biến nhất là màu xanh lá và màu hồng. Cực quang là một hiện tượng quang học, đặc trưng bởi sự thể hiện đầy đủ sắc màu của ánh sáng trên bầu trời về đêm. Chúng sinh ra do sự tương tác giữa các hạt tích điện từ gió mặt trời với lớp trên bầu khí quyển của hành tinh. Các dải sáng liên tục chuyển động và thay đổi khiến chúng giống như những dải lụa màu trên nền trời. Thời gian tốt nhất ngắm bắc cực quang ở Iceland là vào giữa tháng 10 và tháng 4.

Khách du lịch thi nhau đổ xô đến đây ngày càng nhiều để được chiêm ngưỡng hiện tượng kì thú này. Nhiều người may mắn chụp được khoảnh khắc này đã chia sẻ rất nhiều lên mạng xã hội. Đây là cảnh tượng màu sắc vô cùng độc đáo ở Iceland. Iceland là điểm du lịch lý tưởng của khu vực Bắc Âu vì nằm giữa hai châu lục và có cơ sở hạ tầng tuyệt vời để xem bắc cực quang.

Đến thành phố Reykjavik nằm ở cực Bắc Iceland, khách du lịch sẽ ngạc nhiên khi có thể ngắm mặt trời lúc nửa đêm vào mùa hè và mặt trăng sáng tỏ vào mùa đông. Điều tuyệt diệu nhất là bạn còn cơ hội ngắm cực quang ban đêm đến rạng đông, một trong những hình ảnh đẹp của tự nhiên.

Tại Iceland màu sắc phổ biến nhất của bắc cực quang là xanh lá cây, còn tím, đỏ hiếm xuất hiện.Thông thường cực quang xuất hiện như ánh sáng khuếch tán hay một tấm màn mở rộng về hướng Đông – Tây. Tại một số thời điểm, cực quang hình thành vòng cung yên tĩnh. Hầu hết hướng dẫn viên du lịch khuyên du khách muốn viếng thăm quốc đảo tại vòng tròn cực bắc vào mùa hè, từ giữa tháng 6 trở đi là thời điểm tốt nhất. Nhưng thực tế, Iceland cũng thu hút khách du lịch vào các mùa khác.

Bắc cực quang
Bắc cực quang

11


Huyền YS

Suối nước nóng Grand Prismatic Spring- Wiomyng (Mỹ)

suối nước nóng lớn nhất tại rừng quốc gia Yellowstone và lớn thứ ba thế giới. Tên gọi của nó được đặt theo màu sắc nổi bật mà chúng hòa quyện: Xanh da trời, xanh lá cây, vàng, cam, vàng, đỏ và nâu gần giống với bảy sắc cầu vồng.

Vì nhiệt độ nước ở hồ quá nóng nên không có sinh vật nào sống được trong nước, nhưng ở phía bờ hồ mát mẻ hơn nên vi sinh vật vẫn phát triển tốt.

Trong thời tiết lạnh dòng suối nóng tỏa hơi nước mờ mịt tạo nên khung cảnh núi rừng huyền ảo như trong truyện thần tiên. Các nhà khoa học cho biết, sở dĩ hồ Grand Prismatic Spring có hiện tượng đổi màu nước độc đáo đến như vậy là vì vi khuẩn sắc tố phát triển trên các thảm vi sinh vật xung quanh hồ. Các vi khuẩn sản sinh nhiều màu sắc khác nhau phụ thuộc vào tỉ lệ chất diệp lục và nhiệt độ của nước. Bạn sẽ bị cuốn hút bởi sắc màu cuốn hút khi tham quan hồ nước nóng Grand Prismatic Spring.

Để đến được hồ Grand Prismatic Spring bạn có thể chọn một trong những con đường chính từ thành phố Jackson (Wyoming) đi theo đường 191 North thêm 80km là đến cửa Nam của vườn quốc gia Yellowstone. Nếu đi từ thành phố Salt Lake City (bang Utah) thì đi theo xa lộ I-15 North đi khoảng 330 km tới thành phố Idaho Falls (bang Idaho), rẽ qua đường 20 North, chạy thêm 160 km là đến được cửa Tây của Yellowstone (mất khoảng 7 giờ đi xe). Lệ phí để vào công viên Yellowstone: Nếu đi bộ hoặc xe đạp, giá vé là khoảng 12 USD cho mỗi du khách từ 16 tuổi trở lên; nếu vào bằng xe hơi riêng giá vé 25 USD mỗi xe; nếu vào bằng xe gắn máy, giá vé là 20 USD. Lệ phí này có tác dụng sử dụng trong vòng 7 ngày để ra vào Yellowstone và Grand Teton National Parks.

Suối nước nóng Grand Prismatic Spring- Wiomyng (Mỹ)
Suối nước nóng Grand Prismatic Spring- Wiomyng (Mỹ)

12


Hien Hoang

Hồ Plitvice, Croatia

Croatia – đất nước xinh đẹp nằm thu mình cạnh bờ biển Adriatic Địa Trung Hải là nơi được mẹ thiên nhiên ưu ái ban cho những thắng cảnh tuyệt sắc luôn thu hút khách du lịch đổ về đây. Croatia là nơi đặt mình của nhiều cung điện, nhà thờ cổ kính và cũng là nơi mà những con sông uốn lượn chảy quanh thành phố, những thác nước, hang động tô vẽ thêm màu sắc cho bức họa thiên nhiên. Nhiều người truyền tai nhau rằng tại đất nước Croatia xinh đẹp có một chốn bồng lai tiên cảnh ai đến đó cũng chẳng muốn quay gót rời đi. Nơi đây sở hữu vẻ đẹp siêu thực ngỡ chỉ có ở vườn địa đàng. Nằm trong khu rừng với những thác nước hùng vĩ, quần thể hồ Plitvice là điểm đến thu hút khách du lịch hàng đầu của đất nước Croatia

Du lịch hồ Plitvice du khách sẽ phải trầm trồ kinh ngạc khi ngắm nhìn sắc nước, hương trời nơi công viên quốc gia đẹp nhất Croatia này. Hồ Plitvice là một trong số những nơi được UNESCO công nhận di sản thế giới đầu tiên vào năm 1979. Hồ Plitvice nằm trong khu vườn quốc gia lâu đời nhất tại vùng Balkans và lớn nhất của mảnh đất mến khách Croatia với diện tích 300 km2. Nếu đi từ thủ đô Zagreb hướng ra thành phố biển xinh đẹp Zadar thì hồ Plitvice nằm ở nửa đoạn hành trình đó.

Hồ Plitvice tọa lạc tại một khu rừng nguyên sinh ở Croatia được ví như là “khu vườn cổ tích” đẹp nhất châu Âu bởi cảnh sắc thiên nhiên vô cùng độc đáo. Nơi đây là sự kết hợp hoàn hảo của mười sáu cụm ao hồ và thác nước đẹp lung linh, mê hoặc lòng người. Màu sắc của nước hồ Plitvice thay đổi liên tục do số lượng khoáng chất trong nước và sự phản chiếu ánh sáng mặt trời ở những góc độ khác nhau từ xanh ngọc, xanh dương, xanh lá cây đến sắc xám quyến rũ.

Không chỉ vậy hồ Plitvice còn là nơi trú ngụ của những loài nai, gấu, chó sói, mèo rừng, heo rừng và các loài chim quý hiếm, sẽ cho du khách những trải nghiệm du lịch đầy thú vị. Công viên quốc gia hồ Plitvice được thành lập từ năm 1949, tọa lạc ở miền Trung của Croatia tại một thung lũng được che chở dưới những ngọn núi hùng vĩ và rừng xanh bất tận. Đặt chân du lịch tới hồ Plitvice chẳng khác nào bạn đang đi lạc giữa chốn thiên đường.

Hồ Plitvice
Hồ Plitvice

13


Hien Hoang

Hồ nước nóng Boiling, Dominica

Nằm ở độ cao 762m so với mực nước biển, nhiệt độ luôn ở mức 800C đến 950C hồ nước nóng Boiling không phải địa điểm lý tưởng để bạn bơi lội hay lướt sóng. Tuy nhiên cảnh tượng đẹp mắt của những làn khói nước trắng xóa bốc hơi xung quanh hồ Boiling sẽ khiến bạn không phải tiếc nuối khi vượt qua hành trình gian khổ để đến đây khám phá. Hồ nước sôi nằm trong khuôn viên Vườn quốc gia thực tế là một lỗ thoát khí nằm bên trên các dòng dung nham và khí nóng từ núi lửa nên cả hồ tràn ngập một thứ nước xanh xám sôi sùng sục ở nhiệt độ 90°C. Hồ rộng khoảng 76m, chỉ nhỏ hơn hồ nước nóng Frying Pan ở thung lũng Waimangu của New Zealand.

Hồ được phát hiện lần đầu tiên bởi hai người Anh làm việc tại Dominica vào năm 1875. Cuối năm đó một trong hai người phát hiện ra hồ nước, cùng một nhà thực vật học của chính phủ được giao nhiệm vụ nghiên cứu về hiện tượng tự nhiên này. Họ đo nhiệt độ nước ven hồ là vào khoảng 82-92°C, song không cách nào đo được nhiệt độ ở phần giữa đang sôi sùng sục của hồ. Ước tính, hồ sâu ít nhất 60m.Không có con đường nào dẫn thẳng đến Boiling Lake, thay vào đó bạn sẽ phải vượt 13km qua những con suối lưu huỳnh, những hẻm núi, thung lũng, trèo đèo và thậm chí cả bơi. Đây thực sự là một hành trình đầy gian nan nhưng rất thú vị dành cho những người ưa mạo hiểm và thích khám phá.

Để chuẩn bị cho chuyến đi đến Boiling Lake, ngoài những vật dụng cần thiết cho hơn 6 giờ đi bộ, bạn không nên đeo trang sức theo mình vì những dòng suối lưu huỳnh có thể làm hư hại chúng. Hành trình sẽ bắt đầu từ ngôi làng nhỏ Ladrat tới hẻm núi Titou. Hẻm núi này là 1 trong những nơi tuyệt vời nhất để làm giảm đi những đau đớn và mệt mỏi trong hành trình của bạn. Những tay bơi liều lĩnh có thể bơi sâu vào trong hẻm để tới thác nước nhỏ ở cuối con đường. Khi đến đây bạn sẽ được nhìn thấy những màu sắc khác nhau mà bạn chưa bao giờ tuởng tượng nổi nước lại có màu này.

Boiling Lake
Boiling Lake

14


Hien Hoang

Hồ Wuhua Hai, Trung Quốc

Kiêu sa lộng lẫy và quyến rũ lạ thường là những gì mà du khách có thể cảm nhận được khi tận mắt chiêm ngưỡng hồ Ngũ Hoa Wuhua Hai thuộc vườn quốc gia Cửu Trại Câu (Trung Quốc). Tọa lạc ở độ cao 2472m màu nước tự nhiên của hồ biến chuyển vô cùng kỳ ảo từ ngọc lam, xanh lá cây đến sắc vàng rực rỡ. Sở dĩ màu sắc của nước hồ thay đổi là do trong nước có chứa hàm lượng chất carbonat canxi cùng hydrophyte cao khiến hồ trong suốt như pha lê, soi rõ cả sắc màu của những sinh vật dưới đáy.

Khu phong cảnh Cửu Trại Câu được hình thành trên dãy núi đá vôi trầm tích thuộc các cạnh của cao nguyên Tây Tạng, nổi tiếng nhờ hệ thống các hồ đa sắc và các thác nước nhiều tầng và các đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1992, khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 1997. Độ cao của Cửu Trại Câu dao động từ 2.000 cho đến 4.500 mét (6.600 đến 14.800 ft) so với mực nước biển. Năm 1990 khu phong cảnh này được đánh giá là một trong 40 khu du lịch đẹp nhất của Trung Quốc. Năm 1997 khu phong cảnh Cửu Trại Câu được phân loại V trong hệ thống phân loại khu vực bảo vệ của IUCN.

Cửu Trại Câu là khu vực sâu xa trong tiếng của người Tây Tạng nghĩa là “Thung lũng chín làng” để chỉ chín ngôi làng nằm dọc theo chiều dài của nó. Vùng này là nơi khu vực sinh sống của người Tây Tạng và người Khương trong nhiều thế kỷ. Đến năm 1975, khu vực không thể tiếp cận này đã được ít nhiều người biết đến.[2] Mở rộng khai thác gỗ đã diễn ra cho đến năm 1979 khi chính phủ Trung Quốc cấm các hoạt động này và thực hiện các biện pháp đưa khu vực trở thành một vườn quốc gia vào năm 1982. Cục Quản lý được thành lập và địa danh này chính thức mở cửa cho du lịch vào năm 1984. Các cơ sở hạ tầng được bố trí theo quy định hoàn thành vào năm 1987.

Thắng cảnh này đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1992 và khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 1997. Đồng thời nó cũng được phân loại như là một danh lam thắng cảnh AAAAA (5A – tiêu chí cao nhất) bởi Tổng cục Du lịch Trung Quốc. Kể từ khi mở cửa, hoạt động du lịch đã tăng lên hàng năm: Từ 5.000 lượt khách vào năm 1984 lên 170.000 vào năm 1991, 160.000 vào năm 1995, đến 200.000 vào năm 1997, trong đó có khoảng 3.000 người nước ngoài. Khách du lịch đạt 1.190.000 người vào năm 2002. Tính đến năm 2004 trung bình 7.000 lượt khách ghé thăm thắng cảnh này mỗi ngày và lên tới 12.000 trong mùa cao điểm. Thị trấn Zhangzha tại lối ra của thung lũng và huyện Tùng Phan gần đó có nhiều khách sạn trong đó có nhiều khách sạn sang trọng năm sao như Sheraton là nơi trú chân cho khách du lịch khi tới đây.

Hồ Ngũ Hoa Wuhua Hai
Hồ Ngũ Hoa Wuhua Hai

15


Hien Hoang

Hồ muối đỏ Laguna Colorada, Bolivia

Laguna Colorada là một hồ muối cạn tọa lạc ở phía tây nam cao nguyên của Bolivia, sát với biên giới Chile. Trong hồ chứa những đảo muối borac trắng xóa, đá trầm tích và một số loài tảo màu đỏ tạo nên vẻ đẹp kỳ lạ. Đây cũng là nơi tập trung rất nhiều giống chim hồng hạc quý hiếm. Nhìn từ xa, mặt nước hồ Laguna Colorada có màu đỏ rực như máu do lớp trầm tích lắng đọng tạo nên.

Laguna Colorada (Red Lagoon) là hồ muối cạn nổi tiếng ở Bolivia, tọa lạc trong vườn dự trữ sinh quyển quốc gia Eduardo Avaroa Andean và gần với biên giới Chile. Hồ có chiều dài 10,7 km, rộng 9,6 km, độ sâu trung bình là 35 cm. Điểm sâu nhất của hồ đạt 1, 5m. Hồ muối cạn này sở dĩ được gọi là hồ muối đỏ vì nhìn từ xa mặt nước hồ nhuộm một màu đỏ như máu. Nguyên nhân của màu nước độc đáo này là một loại tảo và trầm tích lắng đọng phía dưới. Xung quanh hồ là sự hiện diện của những đảo muối trắng xóa. Sự kết hợp đầy nổi bật giữa hai màu trắng – đỏ tự nhiên này đã tạo thành một điểm đến thú vị, thu hút hàng chục nghìn lượt khách quốc tế đến đây mỗi năm.

Ngoài ra hồ muối cạn này còn là thiên đường của loài chim hồng hạc nổi tiếng và nhiều loài chim khác. Tảo và các sinh vật phù du sống dưới hồ chính là nguồn cung cấp thức ăn khổng lồ cho các loài chim trời này. Thời tiết tại hồ Laguna Colorada lạnh vào ban đêm và ấm áp vào ban ngày, khá thuận lợi cho việc thăm thú quanh hồ của du khách.

Hồ muối đỏ Laguna Colorada (Red Lagoon)
Hồ muối đỏ Laguna Colorada (Red Lagoon)

16


Hien Hoang

Hồ Sứa ở Palau, Philippines

Nếu bạn thích bơi lội và khám phá lòng hồ nước sâu hãy đến hồ Sứa ở Palau để thỏa nguyện sở thích của mình. Hồ nước nổi tiếng này là nơi sinh sống của hàng ngàn loại sứa “hiền lành”, bạn có thể bơi lội tung tăng cùng với hàng triệu con sứa vàng xinh đẹp mà không sợ bị nguy hại đến cơ thể. Năm 2016, Chính phủ Cộng hòa Palau đã ban hành lệnh đóng cửa hồ Ongeim’l Tketau nổi tiếng bởi số lượng sứa vàng, sinh vật độc đáo tại quốc đảo Tây nam Thái Bình Dương có dấu hiệu giảm dần. Nguyên nhân được xác định do nước biển ấm lên đồng thời chính một số thành phần trong kem chống nắng được nghi ngờ ảnh hưởng đến sinh vật nhạy cảm nói trên.

Ngay lập tức các công ty lữ hành không còn sản phẩm cạnh tranh hấp dẫn khiến lượng khách du lịch quốc tế đến đây không đạt mức tăng trưởng như kỳ vọng. Tuy nhiên các nhà chức trách ở bang Koror (Palau), nơi sở hữu danh thắng độc đáo này nói rằng: Lượng du khách du lịch châu Úc hiện đang phục hồi, khách tham quan lại được chào đón tại hồ Sứa vàng Ongeim’l Tketau. Bơi cùng sứa vàng trên đảo Mecherchar, cách Koror khoảng 45 phút đi thuyền là “một trong những điểm thu hút độc đáo nhất tại quốc đảo Palau

Vào năm 2015 trải nghiệm du lịch này ước tính thu hút ít nhất 2/3 số du khách đến quần đảo phía tây Thái Bình Dương, đạt mức cao kỷ lục 160.000 người. Đến năm 2018, con số đã giảm xuống còn 108.000, Tmeuchl cho biết là do tác động của các yếu tố, bao gồm các hạn chế với hồ Sứa vàng Ongeim’l Tketau.Từ biển sứa tìm đường đến với Jelly Fish, một trong 200 hồ nước mặn duy nhất trên thế giới. Theo thời gian chúng dần thích nghi và thay đổi để phù hợp với điều kiện sống nơi đây.

Hồ Sứa ở Palau
Hồ Sứa ở Palau

17


Hien Hoang

Thác nước đóng băng ở hẻm Hyalite

Nằm ở phía nam Bozeman (Montana, Mỹ), hẻm núi Hyalite là một phần của rừng quốc gia Gallatin bao quanh bởi các đỉnh núi cao hơn 3.000 m, lạch, suối, hồ và nhiều thác nước. Có khoảng 10 thác nằm rải rác dọc theo chiều dài 10 km của hẻm núi. Khi đến Hyalite vào mùa đông du khách thường tham gia trải nghiệm đi bộ đường dài qua một số thác trên đường mòn.

Trong khi du khách ghé thăm hầu hết thác nước đóng băng trên khắp thế giới chỉ để thưởng thức vẻ lạ thường là đủ. Nhiều ngọn thác là điểm đến phổ biến cho những người bạo gan, muốn thử sức mình với thử thách leo núi băng. Thác nước đóng băng ở hẻm Hyalite là ví dụ điển hình. Người leo núi táo bạo chỉ sử dụng rìu băng và crampon (thiết bị kéo) để bám vào các cột hoặc bức tường băng giá khổng lồ.

Thác nước đóng băng ở hẻm Hyalite
Thác nước đóng băng ở hẻm Hyalite

18


Hien Hoang

Thác Niagara

Nằm ở biên giới Mỹ và Canada, Niagara là một trong những thác nước nổi tiếng nhất thế giới. Thời điểm này hàng năm, cảnh vật xung quanh thác biến hóa trở thành xứ sở mùa đông lạ kỳ. Nước đóng băng và sương mù biến các cột đèn, lan can và cây cối thành tác phẩm điêu khắc băng. Màu trắng xóa của băng giá bao trùm mọi nơi, thu hút du khách đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp ngoạn mục của dòng thác trứ danh và ghi dấu ấn cá nhân với những bức ảnh check-in thú vị. Nếu đến thăm thác vào ngày có tuyết rơi, trải nghiệm của du khách sẽ trở nên kỳ diệu hơn

Niagara như một báu vật tuyệt mỹ do thiên nhiên ban tặng cho con người, đặc biệt là người dân sinh sống tại Canada và Mỹ. Nằm trên dòng sông cùng tên, thác Niagara trải dài từ New York (Mỹ) sang đến Ontario (Canada) và được chia thành 3 phần:Thác Móng Ngựa (Horseshoe) hay còn gọi là cụm thác Canada, cụm thác Mỹ đánh dấu biên giới 2 nước, cuối cùng là thác nhỏ nhất mang tên Bridal Veil. Có vẻ thiên nhiên đã ưu ái hơn đôi chút cho đất nước lá phong đỏ khi ở phía bờ Canada, Niagara lại có khung cảnh hùng vĩ và hoành tráng hơn so với bờ Mỹ. Nơi đây hàng loạt những khách sạn, nhà hàng, sòng bài và tụ điểm vui chơi giải trí hoạt động tấp nập mỗi ngày đêm, vừa đáp ứng được nhu cầu thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên, vừa đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của khách tham quan trong các chuyến du lịch thú vị đến đây.

Tuy không hoành tráng như phần thác phía Canada, Niagara bờ Mỹ lại mang vẻ rực rỡ rất riêng, đủ để “hớp hồn” bất cứ du khách nào chỉ sau một lần ngắm nhìn. Nếu bờ Canada đem lại những giá trị giải trí cao cho khách tham quan, phía bờ xứ sở cờ hoa lại đem đến những cảm xúc chân thật và gần gũi với thiên nhiên nhất qua những dòng sông, con sóng vỗ cuồn cuộn mang theo nguồn năng lượng mạnh mẽ không ngơi nghỉ. Bờ Mỹ là nơi bạn có thể tham quan công viên Quốc gia với vô vàn cảnh đẹp ấn tượng hay khám phá Động Gió (Cave of Winds) hoang sơ kỳ vĩ, mang lại cho cuộc hành trình nhiều điều mới mẻ và thú vị.

Thác Niagara
Thác Niagara

19


Hien Hoang

Dãy núi Rocky

Dãy núi Rocky của Canada là điểm đến phổ biến với những ngọn núi phủ tuyết, hồ màu ngọc lam, sông băng, động vật hoang dã phong phú. Khung cảnh hùng vĩ nơi đây là phông nền tuyệt đẹp cho những bức ảnh check-in khác lạ của du khách. Dãy núi Rocky được coi là một trong những ngọn núi thách thức nhất đối với các nhà leo núi. Hơn nữa dãy núi Rocky nổi tiếng là nơi có cảnh quan tuyệt mĩ không nên bỏ qua trong hành trình khám phá thiên nhiên Canada.

Rặng Thạch Sơn là quần thể bao gồm hàng triệu ngọn núi đá hùng vĩ. Cảnh quan của Rocky không dừng ở đó mà còn bao gồm rừng thông, hàng trăm ngàn ngọn thác nước, sông băng, hẻm núi, cánh đồng tuyết và hằng hà sa số những ngọn suối nằm trong khu vườn quốc gia rộng lớn của Canada. Nằm trong khu vườn quốc gia rộng lớn của Canada. Dãy núi đá Rocky được hình thành khoảng 1,5 tỉ năm trước, trải qua 100 triệu năm với sự biến đổi của lớp vỏ trái đất, Rặng Thạch Sơn được thấy như ngày hôm nay. Toàn bộ dãy núi có diện tích 180.000km2. Nằm về phía tây Canada, trực thuộc phía tây tỉnh Alberta và phía đông tỉnh Bristish Columbia.

Mỗi ngọn núi có một dáng vẻ khác nhau rất “độc”. Điều đó tạo nên sự đa dạng của Rocky Moutain. Từ những dãy núi cao ngất phủ tuyết trắng xóa, đến những ngọn núi xanh ẩn mình trong mây. Hoặc những ngọn núi kiêu sa soi bóng mình trên nền hồ tĩnh lặng xanh màu ngọc bích. Hay những ngọn núi sừng sững trùng trùng điệp điệp và những dòng sông uốn lượn xanh biếc…

Bất kỳ người Canada nào cũng đều trầm trồ và tấm tắc khi nhắc tới tên hai thị trấn và cung đường nổi tiếng dài khoảng 260km này. Dọc hai bên đường là những dãy núi đá hùng vĩ, sông suối, thác nước, sông băng, cánh đồng tuyết, ao hồ… tuyệt đẹp. Trước khi vào được thị trấn, bạn phải mua vé vào công viên quốc gia rộng lớn hàng ngàn km². Giá vé vào cổng cho một người khoảng 13 USD.

Dãy núi Rocky của Canada
Dãy núi Rocky của Canada

20


Hien Hoang

Đảo Skye ở Scotland

Đảo Skye ở Scotland nổi tiếng với phong cảnh ấn tượng và hoang dã đáng kinh ngạc. Nơi đây thu hút bạn đến khám phá sự ly kỳ của nó. Phong cảnh không một bóng người, những ngọn núi hùng vĩ và tuyệt đẹp, với những lâu đài cổ cùng hồ nước trong xanh sẽ khiến bạn phải nín thở. Với bất cứ ai yêu thích khám phá du ngoạn, đều mơ ước một lần được trải nghiệm những cảnh đẹp nổi tiếng, nhưng điểm du lịch Châu Âu tiếng tăm trong đó hẳn là có Đảo Skye ở Scotland. Hòn đảo mờ ảo bởi làn sương mù bao phủ, thấp thoáng những đỉnh núi cao vời vợi, với những hồ nước đẹp tĩnh lặng mặt hồ như gương.

Du lịch Châu Âu luôn là hành trình mang lại nhiều bất ngờ, dẫu người ta đã biết trước châu lục này có rất nhiều cảnh đẹp quyến rũ mê hoặc lòng người. Đến thăm Đảo Skye ở Scotland cũng vậy, dẫu biết trước điểm du lịch Châu âu này tựa tranh, song một lần đứng trước cảnh quan mới thấy Đảo Skye thực sự mang vẻ đẹp đầy ma lực. Tận mắt thấy những đỉnh núi nhấp nhô trong sương như mây, thấy hồ nước phẳng nặng như không sóng gợn, thấy đồng cỏ lơ thơ heo may trong gió nhẹ trong lành, thấy ven đường những bông hoa nhỏ đẹp nền nã mặc những chiếc áo tươi thanh….bức tranh sống động này có thể khiến bất cứ tâm hồn nào cũng không khỏi xao động.

Người ta gọi Đảo Skye là đảo sương mù, cũng không ít người tả quá, khiến nó trở thành ma mị tựa cảnh trong những câu chuyện cổ đầy những tình tiết kỳ bí. Tuy nhiên hiện thực thú vị ở chỗ, dẫu sương mù nhiều quanh năm nhưng khi đến thăm đảo, ngắm không gian mênh mông chới với sương lảng bảng trong gió đảo, ngắm núi Quiraing kỳ vỹ hay thác Mealt đổ xuống từ vách đa sa thạch…mới thấy hết được vẻ đẹp thiên nhiên khoáng đạt đến khiến con người cảm thấy chới với.

Điểm du lịch Châu Âu có nhiều từ vẻ đẹp duyên dáng đến như cổ tích, Đảo Skye của Scotland cũng không ngoại lệ. Sở hữu cái đẹp vô giá do bàn tay mẹ thiên nhiên tạo tác Đảo Skye khiến con người – bất cứ ai đến thăm và thưởng ngoạn cũng dễ cảm nhận cái đẹp không giới hạn của tự nhiên.

Đảo Skye ở Scotland
Đảo Skye ở Scotland

21


Hien Hoang

Cầu Mặt trăng – Đài Loan

Du lịch xứ Đài không chỉ thu hút du khách bởi cảnh quan mà còn thú vị bởi những công trình kiến trúc độc đáo. Và ở Đài Bắc có mộ công trình khiến nhiều du khách phải ngẩn ngơ, ấn tượng không quên, đó chính là cầu mặt trăng Đài Loan.

Cầu Mặt trăng là điểm thu hút chính của Công viên Dahu tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan. Khi màn đêm buông xuống, ánh trăng rọi xuống mặt hồ như tấm gương lớn phản chiếu mọi cảnh vật. Bằng đôi bàn tay khéo léo và những bộ óc sáng tạo đầy mới mẻ, đột phá, những nghệ nhân xứ Đài đã cho ra đời cây cầu mặt trăng Đài Loan, trở thành điểm tham quan du lịch không thể nào quên với mọi người khi có dịp ghé qua thành phố Đài Bắc sầm uất, sôi động.

Cầu mặt trăng Đài Loan với vẻ đẹp nhân tạo khó cưỡng, đây là cây cầu nằm trong top những cây cầu ấn tượng nhất thế giới và được mọi người gọi ví von với cái tên “cây cầu đẹp như cổ tích ở Đài Loan”. Cầu mặt trăng nằm trong Công viên Hồ Lớn, quận Neihu ở Đài Bắc, cầu được thiết kế theo phong cách hiện đại, mang hơi thở của nghệ thuật kiến trúc Châu Âu. Cách thiết kế khiến cho người ta có cảm giác như có hai cây cầu đang hiện hữu vậy, cây cầu phản chiếu xuống mặt nước trong vắt, tĩnh lặng và vòm cầu hình thành nên một vòng tròn tượng trưng cho mặt trăng, đây là một địa điểm rất thu hút khách du lịch của Đài Loan.

Giữa hồ nước rộng lớn hình ảnh cây cầu mặt trăng Đài Loan bắt ngang qua sông hiện lên thật đẹp, chẳng khác gì bức tranh thủy mạc. Ban ngày du khách có thể đi dạo qua cầu, tận hưởng không khí thoáng đãng, dễ chịu. Buổi tối cây cầu này còn trở nên sống động lạ lùng hơn nữa, một khung cảnh mà bất kỳ ai đến đây cũng đều phải thốt lên là quá đẹp, đẹp không thể cưỡng lại được. Những đêm trăng sáng, cầu mặt trăng Đài Loan đẹp lung linh đúng như tên gọi của nó vậy, giữa dòng nước tĩnh lặng, trong bầu không khí mát mẻ, yên bình, sương mù giăng nhẹ trên mặt hồ, cầu mặt trăng tạo ra một sự phản chiếu hoàn hảo xuống mặt hồ. Bên trên là vầng trăng sáng vằng vặc giữa bầu trời đêm. Tất cả hiện lên như một bức tranh thủy mặc đẹp tuyệt mỹ, chẳng khác gì thiên đường của những câu chuyện cổ tích lãng mạn.

Cầu mặt trăng, Đài loan
Cầu mặt trăng, Đài loan

22


Hien Hoang

Hang động Melissani – Hy Lạp

Hy Lạp nổi tiếng với những di sản cổ đại, bãi biển Navagio tuyệt đẹp, đảo Santorini thu hút đôi tình nhân từ khắp nơi trên thế giới. Không những thế Hy Lạp còn có địa điểm mà tự nhiên tạo nên những tuyệt tác, một địa điểm du lịch mà du khách không thể không tham quan khi có kế hoạch du lịch Hy Lạp đó chính là hang động Melissani. Nằm ở gần thị trấn Sami và chỉ cách bờ biển Mytros, phía đông của đảo Kefalonia 500 mét, nơi đây còn được gọi là “Động Tiên nữ”. Melissani như một thiên đường bí mật nằm ẩn mình trong rừng rậm, đây là hang động nước xanh tuyệt đẹp có sức hấp dẫn kỳ lạ và là một trong những nơi khách du lịch thường ghé thăm nhất khi tới Hy Lạp.

Giống như nhiều hang động khác trên thế giới Melissani cũng có rất nhiều truyền thuyết. Người dân địa phương tin rằng, tên của hang động này được đặt theo tên một người con gái mặc áo lông cừu đã ngã xuống hồ chết đuối trong khi đang đi tìm con cừu bị lạc. Một truyền thuyết khác lại cho rằng nữ thần Melissani nhảy xuống hồ tự tử vì thánh Pan đã không đáp lại tình yêu của cô. Những con cá heo cũng gắn liền với huyền thoại này bởi chúng được các nữ thần sử dụng như một phương tiện để gửi trao tình cảm yêu quý với người yêu. Sau khi nữ thần mất, chúng biến thành đá và “ngự” trong các hang động.

Du khách hoàn toàn có thể thấy rõ hình dạng của cá heo trong các nhũ đá trong hang. Khi mặt trời lên cao vào buổi trưa, ánh nắng khiến nước chuyển sang màu xanh ngọc, nhờ đó tạo ra một ảo giác huyền diệu và toàn bộ hang Melissani đột nhiên được thắp sáng bằng ánh sáng màu xanh. Nửa hang đầu tiên ngập tràn ánh sáng Mặt trời trong khi nửa còn lại thì rất tối, có nhiều nhũ đá với tảo và rêu. Nửa hang tối được thắp sáng bằng đèn điện. Mặc dù kích thước hang lớn nhưng nó đang dần bị lấn át bởi các mái vòm lớn.

Theo thần thoại Hy Lạp hang động Melissani là nơi sinh sống của nữ thần, người quyến rũ các thủy thủ bởi sắc đẹp của mình. Nhưng ngày nay không có gì đáng sợ ngăn cản ai đến đó. Nhiều du khách không thể cưỡng lại vẻ đẹp của làn nước trong xanh bên trong hang động.

Hang động Melissani
Hang động Melissani

23


Hien Hoang

Công viên địa chất Trương Dịch Đan Hà, Trung Quốc

Công viên nằm ở phía tây nam Trung Quốc. Các ngọn núi với những dải màu tạo ra bởi lớp khoáng sản và đá bị phá vỡ. Hiện nay công viên Trương Dịch Đan Hà là một di sản thế giới UNESCO và một địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Công viên địa chất Trương Dịch Đan Hà có tên là Zhangye National Geopark tọa lạc tại thành phố Trương Dịch, thuộc tỉnh Cam Túc, ở phía tây bắc Trung Quốc. Một khu vực có cảnh quan tự nhiên đẹp và nổi tiếng, thu hút đông đảo khách du lịch khắp nơi đổ về để chiêm ngưỡng những phiến đá có màu sắc sặc sỡ kỳ lạ.

Được biết đến với tên gọi là núi cầu vồng, với tổng diện tích là 322km vuông với các dãy núi được hình thành nên từ nhiều lớp sa thạch đỏ và trầm tích ép vào nhau trong suốt hơn 24 triệu năm. Theo thời gian các lớp đá này bị bao mòn, bắt đầu lộ ra những đường sọc biến sắc tạo nên địa hình lởm chởm với các khe núi, cột đá, khe suối, thác nước, thung lung tự nhiên cùng các mảng màu rực rỡ vô cùng đẹp mắt.

Đến tham quan công viên địa chất Trương Dịch Đan Hà du khách đừng quên nán lại đến chiều tà để chiêm ngưỡng khung cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp ở nơi này. Những ánh nắng chiều sậm màu bắt đầu soi rọi lên những vách núi tạo cho nơi đây trở nên lung linh như một bức tranh huyền ảo với những mảng màu sắc tuyệt đẹp. Với những dãy núi đá đỏ, những đụ cát hùng vĩ và những dải màu rực rỡ, tất cả đã tạo nên một khung cảnh vô cùng đặc sắc và sức hút khó cưỡng cho núi cầu vồng Đan Hà, Trung Quốc. Nếu có dịp đi tour du lịch Trung Quốc nhất định bạn phải ghé đến khám phá địa điểm tuyệt đẹp này và săn cho mình những tấm hình check in sống ảo cực chất nhé.

Công viên địa chất Trương Dịch Đan Hà
Công viên địa chất Trương Dịch Đan Hà

24


Hien Hoang

Bãi biển Reynisfjara, Iceland

Bãi biển tuyệt đẹp trông như đến từ hành tinh khác với bãi cát đen, các cột đá bazan và sương mù bao bọc nó. Nếu bạn may mắn, bạn thậm chí có thể nhìn cực quang phương Bắc từ nơi này. Nhắc đến biển người ta thường nghĩ ngay đến những bãi cát trắng trải dài, hàng dừa xanh cao vút che chắn mặt nước trong veo khỏi từng dải nắng vàng. Được đắm mình trong khung cảnh thơ mộng ấy chính là niềm yêu thích của rất nhiều người. Tuy nhiên có những bãi biển chỉ nhắc đến thôi đã khiến nhiều người rùng mình bởi những con sóng cuồn cuộn cùng bờ cát đen như mảnh đất của quỷ dữ. Đó chính là Reynisfjara bãi biển cát đen nổi tiếng ở đất nước Iceland.Với 130 ngọn núi lửa lớn nhỏ, Iceland sở hữu rất nhiều bãi biển cát đen được sinh ra từ những đống tro tàn của dung nham núi lửa phun trào.

Nổi tiếng nhất chính là bãi biển Vik, hay còn có tên là Reynisfjara nơi sở hữu khung cảnh đen tuyền tuyệt đẹp. Nằm ở miền nam Iceland, cách thủ đô Reykjavik 177 km bãi cát đen nổi tiếng này được bao quanh bởi các cao nguyên hùng vĩ, các vách đá dựng đứng và những vòm đá bazan huyền bí. Năm 1991 kênh truyền hình nổi tiếng National Geographic đã bình chọn Reynisfjara là một trong 10 bãi biển phi nhiệt đới đáng tham quan nhất hành tinh. Khi núi lửa phun trào nham thạch tràn xuống biển, gặp lạnh vỡ tan đó chính là nguyên nhân khiến cát ở đây mang một màu đen đặc biệt đến vậy.

Khi đặt chân đến đây du khách sẽ có một cảm giác hoàn toàn khác, giống như bước vào khung cảnh trong một bộ phim khoa học viễn tưởng. Theo truyền thuyết dân gian Iceland những tảng đá bazan tuyệt đẹp mà bạn đang trầm trồ chiêm ngưỡng xưa kia là con quỷ kéo tàu, thuyền đang viễn hành vào bờ. Một ngày nọ chúng bất ngờ bị hóa thành đá do không trốn kịp khi ánh sáng mặt trời lên. Do đặc tính dữ dội của những con sóng, tốt hơn hết bạn không nên tới Reynisfjara để bơi lội hay tham gia những môn thể thao mạo hiểm dưới nước. Tuy vậy bạn có thể trèo lên các cột đá bazan để chụp ảnh và ngắm khung cảnh huyền diệu của bãi biển.

Có lẽ do ít người lui tới nên bãi biển Reynisfjara được coi là thiên đường của hàng triệu loài chim, trong đó có hải âu rụt cổ nổi tiếng, loài động vật quý hiếm đang dần biến mất do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên toàn cầu.

Bãi biển Reynisfjara, Iceland
Bãi biển Reynisfjara, Iceland

25


Hien Hoang

Bờ biển Na Pali, Hoa Kỳ

Giữa những vách đá đầy màu sắc và làn nước xanh trong xanh, biển Na Pali của Hawaii chắc chắn sẽ làm mọi người phải ngạc nhiên với khung cảnh choáng ngợp nhìn ra thung lũng Kalalau và 1.220 mét. Có rất nhiều hoạt động trên bờ mà bạn có thể làm trên đảo Kauai và chuyến đi bè của hoàng đạo chỉ là một trong số đó. Nếu bạn đã từng đến Hawaii bạn biết rằng một hoặc hai ngày mỗi hòn đảo mà một hành trình mang lại cho bạn là KHÔNG đủ để thực sự trải nghiệm những kỳ quan của những hòn đảo này. Một hành trình quanh đảo Hawaii giống như một hành trình quanh Biển Địa Trung Hải. Bạn nhận được chỉ là một “hương vị” của mỗi cổng. Nó chắc chắn giúp bạn lập kế hoạch nơi bạn muốn quay trở lại cho một chuyến thăm kéo dài.

Cách tốt nhất để ngắm bờ biển Na Pali ngoạn mục là đi thuyền. Nếu bạn đang trên một tàu du lịch, bạn có thể sẽ đi thuyền dọc theo bờ biển này và nhìn chằm chằm vào những vách đá ở trên. Nếu bạn muốn có một trải nghiệm cá nhân hơn, bạn có thể đi bộ hoặc đi thuyền nhỏ.

Biển Na Pali của Hawaii
Biển Na Pali của Hawaii

26


Hien Hoang

Thác Skógafoss, Iceland

Skógafoss tạo thành từ hai sông băng là Eyjafjallajokull và Myrdalsjokull. Lượng nước do thác nước tạo ra mạnh mẽ đến nỗi bạn có thể dễ dàng nhìn thấy cầu vồng trong những ngày nắng tại đây. Skógafoss là một thác lớn và đẹp ở miền Nam – Iceland. Thác này cách Reykjavik khoảng 150km nếu bạn lái xe không dừng thì mất 2 giờ đồng hồ để đến đây. Tuy nhiên nếu vào mùa hè thường bạn sẽ phải mất thời gian nhiều hơn bởi 2 bên đường có nhiều cảnh đẹp, cộng với trước đó có một thác đẹp khác là Seljalandsfoss (nằm cách khoảng 30km) nên bạn phải tính dư thời gian ra khi muốn đến thác này.

Phía trên cao của thác Skógafoss là hồ băng Eyjafjallajökull. Thác đổ xuống với chiều cao khoảng 60 mét và chiều rộng là 25m. Điều đặc biệt của thác này là thường xuyên xuất hiện cầu vồng. Nhiều khi xuất hiện cầu vồng đôi, cầu vồng 3… Bên tay phải thác có lối trèo nên chiêm ngưỡng thác từ trên cao và phóng tầm mắt nhìn ra xa ngắm các ngọn núi nhấp nhô gần đó, ngắm hồ băng Eyjafjallajökull và ngắm những con đường nhấp nhô nhỏ bé uốn lượn dưới chân. “Lên cao thấy trời thật gần”. Cảnh đẹp của Skógafoss cũng xuất hiện trong nhiều bộ phim như The Dark World, The Secret Life… và rất nhiều video ca nhạc.

Thác Skógafoss
Thác Skógafoss

27


Hien Hoang

Bãi biển “ngàn sao”, Maldives

Để trải nghiệm những bãi biển rực rỡ huyền diệu của Maldives, bạn có thể ghé thăm bất kỳ hòn đảo nào trong số 1.190 hòn đảo ở đây. Nhưng một trong những bờ biển đẹp nhất chính là bãi biển “ngàn sao” tạo ra nhờ sự phát sáng tự nhiên của hàng triệu sinh vật phù du. Có rất nhiều địa điểm tuyệt vời trên thế giới sẽ làm bạn cảm thấy kinh ngạc khi tận mắt chứng kiến. “Bãi biển ngàn sao” phát sáng kỳ ảo trên đảo Vaadhoo, Maldives là một trong số này – ánh sáng xanh dương huyền ảo vào ban đêm tại đây trông giống như một cảnh đến từ bộ phim “Avatar”.

Vào ban đêm bãi biển ở Maldives phát ra một thứ ánh sáng xanh dịu mát và huyền bí, thu hút sự chú ý của du khách. Đảo Vaadho ở Maldives có nước lấp lánh tự nhiên. Mặc dù mặt nước lấp lánh là hiện tượng phổ biến ở quần đảo Maldives nhưng Vaadho là nơi du khách có thể chiêm ngưỡng hiện tượng này đẹp nhất.Khi màn đêm buông xuống mới là lúc nước biển phát sáng lung linh nhất. Lúc này cảnh tượng rực rỡ ở Vaadho giống như một bức tranh từ trong câu chuyện cổ tích. Từng đợt sóng lấp lánh những “tinh thể pha lê” phát ra một thứ ánh sáng xanh huyền bí, tạo cảm giác thích thú và vô cùng dễ chịu.

Ánh sáng từ tảo dinflagellates được tạo ra bởi luciferin (một loại sắc tố) và một enzyme có tên luciferase. Luciferin phản ứng với oxy, còn luciferase giúp phản ứng này diễn ra nhanh hơn. Khả năng phát quang giúp sinh vật phù du này thoát khỏi sự chú ý của những kẻ săn mồi. Khi thấy ánh sáng từ con mồi, những “thợ săn” cũng phải đề cao cảnh giác. Ánh sáng giúp những con vật nhỏ bé xua đuổi kẻ săn mồi. Một điều thú vị khác về loài tảo dinflagellates là ánh sáng chúng phát ra do sự căng thẳng và cơ chế tự bảo vệ, vậy nên bạn chỉ cần nhúng tay xuống nước và khuấy nhẹ thì ánh sáng sẽ xuất hiện ngay lập tức.

Ngoài ra do loài sinh vật phù du này sử dụng chính nguồn năng lượng của mình để phát sáng, nên chúng không thể duy trì hoạt động đó trong một khoảng thời gian dài. Những du khách tham gia vào hoạt động lướt ván hoặc chèo thuyền ban đêm sẽ để lại những vệt sóng phát sáng rực rỡ. Hoặc đơn giản hơn chỉ cần đi trên cát bạn cũng có thể lưu lại dấu chân với ánh sáng đặc biệt ấn tượng. Thời điểm lý tưởng nhất để chứng kiến hiện tượng quang học này là vào khoảng thời gian giữa mùa hè cho đến hết mùa đông.

Du khách đến với đảo Vaadho có thể cảm nhận được làn nước biển trong xanh dưới chân, trên bãi cát trắng trải dài là những hàng cọ duyên dáng. Thêm vào đó khí hậu ấm áp quanh năm cũng khiến nơi đây trở thành một trong những địa điểm được yêu thích nhất tại Maldives. Hiện tượng nước biển phát sáng cũng có thể tìm thấy ở một số quốc gia khác như Nhật Bản, Australia, Thái Lan, Jamaica, và Puerto Rico.

Bãi biển ngàn sao
Bãi biển ngàn sao

28


Hien Hoang

Đảo Jeju, Hàn Quốc

Đảo Jeju tự hào với ngọn núi cao nhất Hàn Quốc, Hallasan một ngọn núi lửa không hoạt động, cao gần 1.950 mét so với mực nước biển. Đảo Jeju sẽ khiến bất kỳ du khách nào từng đặt chân đến đều không nỡ xa. Xứng đáng là viên ngọc quý của khu vực Đông Bắc Á, đảo Jeju từng bước trở thành một thiên đường du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới. Đảo Jeju có diện tích rộng 1846 km2 và là đảo lớn nhất Hàn Quốc. Đảo Jeju hình thành do núi lửa phun trào cách đây hàng trăm triệu năm, chính vì vậy trên đảo có rất nhiều đá đen, xốp và có thể hút được nước.

Một số khu vực địa hình do núi lửa tạo nên đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Nhiệt độ ở trên đảo quanh năm mát mẻ, tháng nóng nhất cũng chỉ lên đến 33 độ C. Chính vì thế đảo Jeju trở thành điểm đến lý tưởng cho bất kỳ thời điểm nào trong năm. Không hẳn ai cũng biết đảo Jeju còn có tên gọi khác đảo Samdado có nghĩa là đảo ba thứ nhiều. Vậy 3 thứ nhiều ở đây là gì? Đó là nhiều gió, đá và phụ nữ.


Jeju là một hòn đảo nằm cô lập bên ngoài đại dương cho nên gió thổi quanh năm. Núi lửa phun trào khiến nơi đây trở thành một khu trưng bày với nhiều loại đá khác nhau và hình thù đa dạng. Trở về thời gian các ngư dân trên đảo sống chủ yếu vào nghề đánh bắt cá, với dụng cụ thô sơ, thuyền bè cũ kỹ những người đàn ông ra biển phần lớn đã không trở lại. Do đó phụ nữ ở trên đảo là một cái nhiều của Jeju. Bên cạnh những nét độc đáo của đảo Jeju – thiên đường du lịch hấp dẫn nhất của Hàn Quốc, còn là một di sản thiên nhiên của thế giới như núi Hallasan hay đỉnh Seongsan IIchulbong. Và trên đảo Jeju còn rất nhiều điều bạn nên khám phá.

Đảo Jeju
Đảo Jeju

29


Hien Hoang

Hồ nước Thần Tiên, Scotland

Scotland là một điểm đến phù hợp cho những người mộng mơ. Đến với Scotland, khách du lịch sẽ bị những cảnh đẹp lạ kỳ của vùng đất lôi cuốn.

Hồ bơi cổ tích quyến rũ của Skye chỉ có thể đi bộ qua khu rừng Glen Brittle – nhưng quãng đường đi thật xứng đáng để có được cái nhìn ấn tượng về màu nước trong vắt của những hồ tự nhiên này. Đáng chú ý nhất ở hồ Earn là Mirror Man, một tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp nghệ sĩ Rob Mullholland, được chôn một nửa ở giữa hồ. Hồ Earn còn mê hoặc du khách nhờ hiện tượng thủy triều độc đáo của mình là nơi duy nhất trên thế giới có hiện tượng thủy triều tại một hồ nước ngọt.

Hồ nước Thần Tiên, Scotland
Hồ nước Thần Tiên, Scotland

30


Hien Hoang

Hang Sơn Đoòng (Quảng Bình)

Hang Sơn Đoòng (Quảng Bình) thực sự là một kiệt tác tuyệt vời của thiên nhiên, ngoài sức tưởng tượng với những khối thạch nhũ, măng đá khổng lồ treo trên trần hang động hoặc “mọc” lên từ mặt đất. Từ năm 1990 đến năm 2019, nhóm thám hiểm hang động của BCRA (British Cave and Research Association) do ông Howard Limbert dẫn đầu đã khảo sát hơn 350 hang tại khu vực VQG Phong Nha – Kẻ Bàng và 20 hang động ở các vùng lân cận. Với chiều cao đủ để chứa một tòa cao ốc 40 tầng, hang Sơn Đoòng có kích thước lớn tới mức một chiếc Boeing 747 có thể dễ dàng bay qua.


Hang động Sơn Đoòng là một trong những địa điểm du lịch Quảng Bình đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều du khách cả trong và ngoài nước. Có nhiều nhà thám hiểm đã hình dung ra hang Sơn Đoòng có thể chứa được một tòa nhà chọc trời tại New York và không thể miêu tả đâu mới là điểm kết thúc của hang. Quần thể hang động ở Phong Nha – Kẻ Bàng được đánh giá là Đệ nhất kì quan động, một trong những danh thắng đẹp nhất trên thế giới.


Động Sơn Đoòng có sông ngầm chảy dưới lòng đất, lại có cả các bãi cát với chiều dài bất tận và vô vàn khối thạch nhũ tuyệt đẹp. Cả thế giới dường như vỡ òa ngạc nhiên về một nghiên cứu của ông Howard Limber khi tham hiểm hang động này. Những số liệu đầu tiên được đưa ra bởi Hoàng gia Anh: Hang động Sơn Đoòng có chiều rộng 200m, dài ít nhất là 6,5 km (tức là có thể chiều dài hơn thế), cao hơn 150m. Theo công bố này hang Sơn Đoòng đã vượt qua được kỉ lục của hang Deer tại Malaysia, chiếm vị trí đứng đầu hang động tự nhiên có diện tích lớn nhất thế giới.


Hang Sơn Đoòng được hình thành khoảng từ 5 triệu năm trước. Dòng nước chảy qua làm xói mòn đá và tạo thành đường hầm khổng lồ trong lòng đất chảy dưới dãy núi. Một số nơi trong hang có ánh nắng mặt trời chiếu xuống, tạo nên thảm thực vật với hơn 200 loài thực vật. Việc phát hiện ra hang Sơn Đoòng Quảng Bình có ý nghĩa thực sự quan trọng đối với Việt Nam nói riêng và các danh lam thế giới nói chung. Việc này đã giúp cho ngành du lịch trong nước lại sôi nổi và nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Hiện đang có rất nhiều công ty du lịch khắp 3 miền lên kế hoạch đề khai thác các gói tour du lịch Quảng Bình có bao gồm thăm quan hang Sơn Đoòng.

Hang Sơn Đoòng - Quảng Bình
Hang Sơn Đoòng – Quảng Bình

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức tổng hợp 24h

Top 10 Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao

Nam Cao được biết đến trong lịch sử văn học Việt Nam là một nhà văn hiện thực xuất sắc. Ổng để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị trên cả hai đề tài về người trí thức tiểu tư sản và người nông dân nghèo. Nhưng tên tuổi của ông vẫn gắn liền với tác phẩm “Chí Phèo”- Một kiệt tác của Nam Cao, một tác phẩm mang đậm giá trị nhân đạo sâu sắc, đồng thời cũng phê phán cái xã hội thối nát bấy giờ. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” đã dược Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Published

on

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 1

Nam Cao là một nhà văn lớn của dân tộc. Ông chuyên viết về người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ. Họ không những nghèo mà thậm chí còn bị đẩy vào bước đường cùng, bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính. Điển hình trong đó là tác phẩm Chí Phèo. Qua những biến cố nghiệt ngã trong cuộc đời Chí từ một chàng thanh niên hiền lành chịu khó trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại, Nam Cao không những nói lên sự thật cay đắng về số phận của những người nông dân bất hạnh và bất lực dưới ách thống trị tàn ác của thực dân phong kiến, mà còn thể hiện giá trị nhân đạo rất sâu sắc. Ông cảm thương và xót xa cho những mảnh đời cơ cực.

Trung tâm của tác phẩm là Chí Phèo – đại diện cho những người nông dân bị bần cùng hóa tới mức đánh mất chính bản thân mình, lao vào con đường tội lỗi và tối tăm. Chí dù không cha không mẹ nhưng Chí vẫn trở thành một con người tốt. Chí làm thuê làm mướn, chịu thương chịu khó kiếm sống nuôi thân. Nhưng đường đời vốn dĩ lắm truân chuyên, Chí bị gia đình Bá Kiến đẩy vào tù. Năm tháng tù đày và lòng hận thù biến Chí trở thành một con người hoàn toàn khác từ ngoại hình cho đến tính cách. Chí xăm trổ những hình thù quái dị, cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn… trông gớm chết. Trước đây Chí tốt đẹp bao nhiêu thì giờ đây lại xấu xa, tồi tệ bấy nhiêu.

Con đường tha hóa của Chí tỉ lệ thuận với sự tàn ác, bất nhân của chế độ phong kiến. Trong xã hội ấy còn rất nhiều người giống như Chí. Chí chỉ là một nhân vật điển hình trong phần người đông đảo ấy. Họ bị như vậy không phải vì bản thân quá yếu hèn, không có nghị lực vươn lên, mà vì sự tàn ác của chế độ quá lớn. Trong khi đó họ lại chỉ là những người nông dân thấp cổ bé họng, không tiền, không địa vị, không học thức. Làm sao có thể chống lại được với giai cấp đầy quyền lực và tàn nhẫn? Nam Cao bày tỏ sự xót thương và đồng cảm sâu sắc với Chí và những con người bất hạnh như Chí.

Trong chuỗi ngày dài dằng dặc với những niềm cay đắng chồng chất giống như những vết sẹo chằng chịt trên khuôn mặt trong những lần vạch mặt ăn vạ, nhà văn đã đưa thị Nở đến với Chí. Sự kiện này đã làm Chí tỉnh thức và tìm lại được chính mình. Sau đêm gặp thị, Chí tỉnh táo và nhận thức được mọi thứ xung quanh mình. Cuộc sống thật giản đơn mà lại hạnh phúc đến vậy. Tiếng mái chèo gõ cá, tiếng chim hót, tiếng người nói lao xao đi chợ, và dáng dấp của một người đàn bà ngay cạnh bên, tất cả đã mang đến cho Chí sự quyết tâm trở lại làm người lương thiện. Đằng sau những tiếng chửi chua ngoa, sau những trận rượu say xỉn triền miên, ta lại thấy một Chí Phèo đầy lòng nhân ái và giàu tình yêu thương. Có thể thị dở hơi nên thị không ý thức được điều mình đang làm là sống cùng với một thằng không cha không mẹ, chuyên đi rạch mặt ăn vạ nhưng Chí đang hoàn toàn tỉnh táo.

Trước mặt Chí là người đàn bà ế chồng, xấu xí và ngờ nghệch nhưng điều đó có là gì khi Chí cảm nhận được tình cảm rất chân thật và trong sáng của thị. Thị chẳng hề đắn đo suy nghĩ hay có bất kì một thành kiến nào đối với một kẻ đi ở tù về như Chí. Thị dở nhưng tấm lòng của thị rất thánh thiện. Bát cháo hành thị nấu được nêm gia vị bằng sự đồng cảm, bằng tình yêu thương rất chân thật. Bát cháo ấy đã đánh thức phần người trong Chí trỗi dậy. Chí muốn cùng thị thực hiện ước mơ ngày nào của mình: có một gia đình nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải thêu thùa. Ước mơ ấy không chỉ của riêng Chí mà của rất nhiều người. Chí không chê thị dở, lại càng không chê thị xấu. Có thể do tình yêu mù quáng, nhưng ước mơ kia của Chí là điều rất đúng đắn và nghiêm túc. Sau bao nhiêu biến cố xảy ra, sau những vết sẹo kéo dài trên mặt, Chí lại trở về là một con người rất hiền lành, rất tốt tính. Mối tình của Chí với thị như một ân huệ mà Nam Cao muốn dành cho đứa con đẻ của mình, để Chí được một lần trong đời sống hạnh phúc dù chỉ là ít ỏi. Bởi ngay sau đó, thị đã nghe lời bà cô cự tuyệt Chí.

Thêm lần nữa Chí chìm vào cơn say. Nhưng cơn say này khác với những cơn say trước. Bởi nó có lẫn men rượu với hơi cháo hành thoang thoảng. Sự tuyệt vọng và lòng hận thù lại trào dâng trong Chí, dẫn bước chân Chí tới thẳng nhà Bá Kiến dù trong đầu xác định đến nhà thị Nở để giết chết con khọm già nhà nó. Nhưng họ đâu có tội tình gì. Chí ra nông nỗi này đều do Bá Kiến gây nên. Chí giết chết hắn rồi tự tử. Chí không muốn sống tiếp cuộc đời đằng đẵng những khổ đau này nữa. Ngay cả một ước mơ giản đơn nhất Chí cũng không được quyền thực hiện. Chí được sinh là làm người nhưng lại sống như một con quỷ dữ, chẳng ai dám lại gần Chí. Cho tới khi thị đến nhưng cuối cùng thị cũng quay lưng lại với Chí. Chí cảm thấy cô đơn và lạc lõng giữa biển người mênh mông. Chí sợ rằng tuổi già của mình sẽ trở nên cô độc và đau khổ… Chí chết, Chí sẽ không còn phải tiếp tục chìm trong men say nữa, cũng chẳng phải xuất hiện trước mặt mọi người với dáng dấp trông gớm chết.

Dù Chí chết, nhưng còn có một Chí Phèo con trong bụng thị Nở. Thị cúi xuống và nghĩ tới cái lò gạch xa xa. Bá Kiến chết còn có Lý Cường. Hắn cũng gian ác và xảo trá như cha hắn. Chí chết, câu chuyện kết thúc nhưng những bất công và những số phận bất hạnh như Chí Phèo vẫn còn tồn tại nhiều trong xã hội. Không biết rằng có bao nhiêu thị Nở để mang đến niềm hạnh phúc dù là ít ỏi cho những cuộc đời ấy. Qua đó, nhà văn Nam Cao muốn gửi gắm và bày tỏ niềm xót thương, sự đồng cảm của mình đối với người nông dân cùng khổ. Đồng thời ông cũng ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp, những tấm lòng lương thiện còn sót lại sau những xô bồ, bon chen của cuộc sống lao đao, lận đận.

Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, Nam Cao đã dựng lên một Chí Phèo mang giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 1
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 1

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 2

Nam Cao được biết đến trong lịch sử văn học VN là một nhà văn hiện thực xuất sắc. Ổng để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị trên cả hai đề tài về người trí thức tiểu tư sản và người nông dân nghèo. Nhưng tên tuổi của ông vẫn gắn liền với tác phẩm Chí Phèo- Một kiệt tác của NC, một tác phẩm mang đậm giá trị nhân đạo sâu sắc, đồng thời cũng phê phán cái xã hội thối nát bấy giờ.

Xây dựng nên hình tượng người nông dân bị tha hóa trong xã hội thực dân trước Cách mạng tháng Tám là một sáng tạo mới trong nền văn xuôi nước nhà nói chung và của Nam Cao nói riêng. Nhà văn đã cảm nhận được cái vẻ đẹp chất phác, bình dị ẩn chứa trong cái vẻ bề ngoài thô ráp, xù xì của họ, mà tiêu biểu là nhân vật Chí Phèo- một điển hình nghệ thuật về người nông dân bị xô đẩy chà đạp đến mức tha hóa. Chí không may mắn khi được sinh ra trong một gia đình không đàng hoàng, không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi. Có một hoàn cảnh sống tội nghiệp, nhưng Chí lớn lên khá khỏe mạnh, hiền lành, lương thiện,… Có một ước mơ giản dị như bao người nông dân khác: một gia đình nhỏ, chồng cày cấy, vợ dệt vải… Vốn từng mang trong mình bản chất của một con người đúng nghĩa, Chí phân biệt được đúng sai, tốt xấu qua hành động bóp chân cho bà Ba- “Hắn cảm thấy nhục hơn là thích”.

Sống ở một cái xã hội bình thường, người như Chí hoàn toàn có thể sống một cách lương thiện yên ổn. Nhưng cuộc đời nào có hai chữ “bình lặng”…Bằng ngòi bút lạnh lùng nhưng đa cảm, Nam Cao đã cho thấy tất cả nỗi thống khổ ghê gớm của nhân vật Chí Phèo . Nỗi thống khỏ đó không phải là không cha không mẹ, không nhà không của, không họ hàng thân thích… mà chính là Chí Phèo bị xã hội vằm nát của cả bộ mặt người, cướp đi lình hồn người phải sống kiếp sống tối tăm của con vật lạ. Đó là nỗi thống khỏ của cá thể sinh ra là hình hài của một con người nhưng lại không được làm người và bị xã hội từ chối, xua đuổi. Tình trạng bi thảm này được tác giả mình chứng cho đoạn mở đầu giới thiệu một chân dung, một tính cách “hấp dẫn”, vừa hé cho thấy một số phẩn bi đát.

Dù say rượu đến điên khùng, Chí Phèo vẫn như cảm nhận thấm thía”nông nỗi” khốn khổ của thân phận mình. Anh chửi trời, chửi đời rồi chuyển sang chửi tất cả làng Vũ Đại, cuối cùng ảnh chửi cái thằng cha con mẹ nào đẻ ra thằng Chí Phèo. Không ai chửi lại vì rất đơn giản là không ai coi anh như là một con người. Nam Cao có vài cái nhìn đầy chìu sâu nhân đạo khi đi vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của những con người khốn khổ. Chí Phèo đến với Thị Nở trong một đêm say rượu. Như điều kì diệu là TN không phải chỉ khơi dậy bản năng ở gã đàn ông say, mà lòng yêu thương mộc mạc, chân thành, sự chăm sóc giản dị của người đàn bà xấu xí, vô duyên và ngớ ngẩn ấy đã làm thức tỉnh Chí Phèo.

Trong tâm hồn tưởng chừng như đã chai sạn, thậm chí bị hủy hoại của Chí Phèo, phần lương thiện ngày thường bị lấp đi vẫn le lói một ánh sáng lương tri, sẽ bừng sáng lên lúc gặp cơ hội. Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, anh bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng đập mái chèo đuổi cá , tiếng cười nói của những người đi chợ, thì niềm ao ước một gia đình nhỏ lại trỗi dậy trong lòng anh sau những tháng ngày dài chìm trong cơn say khướt. Nam Cao đã phát hiện ra ngọn đóm đỏ đăng hắt hiu le lói, việc cuối cùng là cho nó chút mồi để nó bùng lên. Nhưng còn đường đời của Chí lại bị chắn đứng lại. Bà cô của TN – Nhân vật đại diện cho suy nghĩ của dân làng Vũ Đại đã nhất quyết không cho cháu mình đi lấy một “thằng chỉ có nghề là rạch mặt ăn vạ”. Cánh cửa quay về lương thiện đã đóng xập trước mặt Chí.

Đau khổ CP phải cất lên tiếng thét “Tao muốn làm người lương thiện…”, “Ai cho tao lương thiện?..” Chí đã nhận thức được bản chất con người của mình thì không còn nguyên cớ nào lại có thể biến anh sống trở lại kiếp quỷ dữ, không thể tiếp tục rạch mặt ăn vạ, giết người đốt nhà. Chí đã đâm chết bá kiến và tự kết thúc cuộc đời mình. Đó là một kết cục bi thảm nhất, đồng thời cũng là chiếc chìa khóa giải thoát CP khỏi kiếp đời trớ trêu, cái kiếp số muốn sống như một con người nhưng không thể được. Chính cái xã hội thối nát thời bấy giờ đã tạo ra những sản phẩm như Chí Phèo-hình ảnh tiêu biểu của người lao động lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tôi lỗi dần dần bị tha hóa về thể xác lẫn tâm hồn. Mà đại diện cho giai cấp thống trị chính là Bá Kiến-một tên cường hào cáo già trong nghề thống trị dân đen, được khắc họa qua những chi tiết ngoại hình độc đáo, từ “giọng nói rất sang”, lối nói ngọt ngào đến cái cười Tào Tháo…

Vì sự hờn ghen vớ vẩn của hắn đã đẩy Chí vào con đường tù tội. Chốn lao ngục ấy của bọn thực dân đã tiếp tay cho lão cường hào thâm độc để giết chết phần người trong Chí Phèo, biến Chí thành Phèo, biến người nông dân lương thiện thành quỷ dữ. Sự tha hóa ấy không chỉ có Bá Kiến, nhà tù thực dân gây ra, mà còn những người dân sống ở làng Vũ Đại mà tiêu biếu nhất là bà cô của TN- Con người đã tạo ra bức tường vô hình ngắn cách Chí đến với cuộc sống đích thực của một người lương thiện. Kết thúc câu truyện là một tình tiết đầy ngụ ý, biết đâu lại chẳng có một “CP con” bước ra từ cái lò gạch cũ vào đời để “nối nghiệp bố”. Hiện tượng Chí Phèo chưa thể hết khi xã hội tàn bạo vẫn không cho con người được sống hiền lành, tử tế, vẫn còn những người dân lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tội lỗi. Sức mạnh của tác phẩm là vạch ra được cái quy luật tàn bạo, bi thảm này trong cái xã hội tối tăm của nông thôn nước ta thời đó.

Tác phẩm Chí Phèo mạng đậm giá trị nhân đạo đặc sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương của NC đối với những người khốn khổ. Chí Phèo còn là tiếng kêu cứu thiết tha của những người bất hạnh. Hãy bảo vệ và đấu tranh cho quyền được làm người của những con người lương thiện.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 2
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 2

3


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 3

Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945. Chí Phèo có lẽ là tác phẩm thành công hơn cả trong việc đem lại cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội vạn ác đã chà đạp lên nhân phẩm con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.

Căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông, yêu thương trân trọng con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45. Tuy nhiên, trong tác phẩm Chí Phèo,Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó cũng là một hiện thực phổ biến. Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí, không còn được là con người mà trở thành một con “quỉ dữ”, bởi âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một guồng máy thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn đương thời.

Thật ra trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẩm thấu, thống nhất với nhau, khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Bởi vì nội dung phản ánh (và tiếp nhận) – yêu thương, trân trọng hay căm ghét, khinh bỉ? Tách riêng ra hai giá trị là làm phá vỡ sự gắn liền hữu cơ của một chỉnh thể nghệ thuật vốn dĩ thống nhất.

Đọc xong tác phẩm Chí Phèo ta thấy gì? Mở đầu tác phẩm là cảnh Chí Phèo ngật ngưởng trên đường đi vừa chửi, từ trời đến người, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi. Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ, gây gổ… trong đó Chí Phèo hiện lên như một biếm họa tiêu biểu. Hãy nghe nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?.

Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỉ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời. Có lẽ hắn cũng biết rằng hắn là quỉ dữ của làng Vũ Đại để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu nước mắt của bao nhiêu người lương thiện… Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua…”

Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn được cuộc sống của một con người. Những năng lực vốn có của một con người – năng lực cảm xúc, nhận thức – hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách. Chí Phèo bị phá hủy nhân tính lẫn nhân hình như thế bởi đâu? Nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa ấy. Ông thiên về lí giải phân tích cái cội nguồn sâu xa dẫn đến kết cục bi thảm của nó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá Kiến, về nhà tù, về bà cô Thị Nở, về dư luận xã hội nói chung… Trong hàng loạt mối liên kết ấy, người đọc dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo (và không chỉ Chí Phèo mà cả những Năm Thọ, những Binh Chức – cả một tầng lớp được nhà văn cá thể hóa qua nhân vật Chí Phèo) từ một thanh niên lành như cục đất hoá thành con quỉ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thuở lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương, và đặc biệt khi lớn lên, chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn.

Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già “khôn róc đời”, “ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “mềm nắn rắn buông”, “Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hay đập bàn đập ghế đòi cho được 5 đồng, nhưng được rồi lại vứt trả lại 5 hào vì thương anh túng quá!”. Chính hắn đã lập mưu đẩy Chí Phèo vào chỗ tù tội oan uổng và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có Chí Phèo, nhưng Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà thậm chí là phương tiện tối ưu để thống trị: “không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò”. Chính Bá Kiến đã rút ra cái kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy. Là một tội nhân, nham hiểm, nhẫn tâm, nhưng Bá Kiến lại hiện ra bề ngoài như một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn bằng cặp mắt “kính cẩn”…

Vì thế mà hắn đã lường gạt được bao nhiêu dân chất phác lương thiện. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm Chí Phèo như một nhân vật điển hình, sống động và cá biệt, tiêu biểu cho một bộ phận của giai cấp thống trị, được miêu tả, khám phá dưới một ngòi bút bậc thầy. Cùng với hắn là Lý Cường, là chánh Tổng, là đội Tảo… Chính bọn chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam thành cái thế “Quần ngư tranh thực” (bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi, chỉ trực rình rập tiêu diệt nhau).

Chính chúng là thủ phạm gây ra bi kịch của những Chí Phèo… Số phận của Năm Thọ, Binh Chức, tuy chỉ được nhắc qua tác phẩm, nhưng cũng góp phần chỉ ra tính hệ thống và phổ biến của phương cách tha hóa người dân trong sự thống trị của chúng. Đằng sau những Bá Kiến, Lý Cường, Chánh Tổng… như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu – cả một điều kiện môi trường bất hảo. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết rằng khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khỏi tù, hắn trở về với cái vẻ hung đồ, cái thói du côn ương ngạnh học được từ đấy. Nhà văn chỉ nói có thế. Nhưng như thế với bạn đọc thông minh cũng đã quá đủ!

Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lý và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn, nhưng chất chứa bên trong biết bao nỗi niềm quằn quại, đau đớn trước thân phận đau đớn của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực trên kia là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gởi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo.

Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng. Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hất hủi. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe ra một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm thanh ấy bao giờ chả có.

Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn, trong cái phút tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc – cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau. Cũng may Thị Nở mang bát cháo hành tới. Nếu không, hắn đến khóc được mất trong tâm trạng như thế… Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng khuâng: Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền! “Hắn thèm lương thiện – Hắn khát khao làm hòa với mọi người”… Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nường nào!

Bằng chi tiết này, Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ – Nhà văn như muốn hòa vào nhân vật để cảm thông, chia sẻ những giây phút hạnh phúc thật hiếm hoi của Chí Phèo… Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém, rạch mặt ăn vạ… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời. Và, như Đỗ Kim Hồi nói, “một khi người được nếm trải chút ít hương vị làm người thì cái xúc cảm người sẽ không thể mất… Đấy là mối bi thảm tột cùng mà cách giải quyết chỉ có thể là cái chết”. (Tạp chí Văn học số 3-1990)

Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người! Đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 3
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 3

4


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 4

Là nhà văn trung thành với chủ nghĩa chân thực, cũng như các cây bút tả chân đương thời, Nam Cao quan tâm trước hết tới việc đi sâu thể hiện tình cảm khốn khổ của người nghèo bị áp bức, trong đó có tác phẩm Chí Phèo. Tác phẩm tượng đậm nét về bức tranh đời sống xã hội nông thôn. Đó là hệ thống trật tự của làng Vũ Đại: là ấn tượng về tình trạng khép kín của làng xã phong kiến. Đặc biệt nó đã phơi bày các mối quan hệ xã hội phức tạp của hiện thực đã miêu tả trung thực những quan hệ thực. Đồng thời là tình thương đối với những con người bị xã hội đẩy vào con đường tha hóa, bị hắt hủi… Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo của Chí Phèo.

Nam Cao được coi là Nhà văn của nông dân trước hết vì có tác phẩm Chí Phèo Tác phẩm có phạm vi phản ánh hiện thực trải ra cả bề rộng không gian và bề dài thời gian. Làng Vũ Đại trong tác phẩm chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam đương thời. Ngòi bút Nam Cao tỏ ra sắc sảo khi vạch ra mối quan hệ thực trong nội bộ bọn cường hào. Chẳng phải vì đất làng Vũ Đại có cái thế quần ngư tranh thực như lời ông thầy địa lí nói nên bọn cường hào chia năm bè bảy cánh đối nghịch nhau, mà do chúng là một đàn cá tranh mồi, mồi thì ngon đây, nhưng năm bè bảy mối. Ngoài mặt tử tế với nhau nhưng trong bụng muốn cho nhau lụn bại. Đây là hiện tượng có tính quy luật ở nông thôn, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội – ruồi muỗi phải chết oan uổng khi trâu bò húc nhau.

Dựng nên bức tranh xã hội ở nông thôn, trước hết Nam Cao tập trung làm nổi bật xung đột giai cấp giữa địa chủ cường hào với người nông dân bị áp bức – phản ánh hiện thực nông thôn trên bình diện mâu thuẫn giai cấp. Nó làm nên giá trị nhận thức và sức mạnh phê phán to lớn. Nam Cao đã xây dựng hình tượng điển hình về giai cấp thống trị ở nông thôn: Bá Kiến – lão cường hào cáo già với giọng quát rất sang, cái cười Tào Tháo cho thấy bản chất gian hùng, khôn róc đời. Và tư cách nhem nhuốc của cụ tiên chỉ thói ghen tuông. Bá Kiến nghiền ngẫm về nghề thông trị, rút ra phương châm: mềm nắn, rắn buông, bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu, thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân… Với chính sách: lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò, thu dụng những thằng bạt mạng, không sợ chết, không sợ đi tù.

Nam Cao không đi vào nạn sưu thuế, tô tức, tham nhũng mà ở Chí Phèo Nam Cao đi vào phương diện: người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn hủy diệt về nhân cách, bị phủ nhận tư cách làm người. Nỗi thống khổ của Chí Phèo không phải ở chỗ cuộc đời Chí Phèo chỉ là số không: Không nhà cửa, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm dùi… mà chính ở chỗ Chí Phèo bị xã hội rạch nát bộ mặt, cướp đi linh hồn, bị loại khỏi xã loài người, sống kiếp quỷ dữ.

Mở đầu tác phẩm là hình ảnh Chí Phèo ngật ngưỡng vừa đi vừa chủi. Nhưng đằng sau chân dung gã say rượu cái gì như là sự vật vã của một linh đau đớn, tuyệt vọng. Tiếng chửi của Chí Phèo không hẳn là bâng quơ. Tuy nhưng vẫn mơ hồ thấm thìa nỗi khổ của thân phận. Chí Phèo là điển hình một bộ phận cố nông bị đẩy vào con đường lưu manh hóa. Chí Phèo trước hết hiện tượng có tính quy luật của tình trạng áp bức bóc lột tàn bạo ở nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là hiện tượng những người nông dân bị đè nén thái quá đã chống trả lại để tồn tại bằng việc bán cả nhân phẩm đã trở thành lượng mù quáng dễ dàng bị bọn thống trị lợi dụng.

Vì thế, Chí Phèo từ chỗ liều chết với bố con lão, chỉ cần lời nói và mấy hào chỉ trở thành tay say mới lão. Sức mạnh tố cáo to lớn của hình tượng Chí Phèo trước hết đã làm nổi hình tượng có tính quy luật diễn ra ở nông thôn – hiện tượng lưu manh hóa. Song ý nghĩa khái quát của hình tượng Chí Phèo còn ở cấp độ cao hơn: sự hủy diệt nhân tính trong xã hội độc ác, không cho con người được làm người. Tác phẩm Chí Phèo không dừng ở đó mà với câu chuyện về mối tình Chí Thị, bằng giọng vẫn bông lơn, có lúc như chế giễu chuyện tình của hạng nửa người nửa ngợm thì đây vẫn là chuyện có nội dung nghiêm túc, chứa đựng tư tưởng nhân đạo mới mẻ.

Giữa lúc cả làng Vũ Đại không chấp nhận giao tiếp, xem Chí như quỷ dữ thì một người đàn bà thuộc dòng giống mả hủi, xấu đến ma chê quỷ hờn lại có tấm lòng vàng, thấy Chí hiền lành, Thị Nở chính là chiếc cầu nối đưa Chí ở đáy sâu của tha hóa thức tỉnh bản chất người lao động. Bằng sự chăm sóc giản dị, tình yêu thương mộc mạc mà chân thành của người đàn bà khốn khổ đã khơi dậy linh hồn Chí Phèo. Chí nghe thấy những âm thanh cuộc sống thường ngày mà bây lâu nay vùi trong những cơn say nên Chí không biết đến. Nó vang động sâu xa trong lòng Chí, trở thành tiếng gọi cuộc sống khẩn thiết, làm Chí nhớ đến ước mơ ngày nhỏ ngày xưa.

Có lẽ đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Chí tỉnh táo để tự ý thức về thân phận. Để rồi nhận ra sự tác oai, tác quái của mình bấy lâu nay. Và mong muốn : giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?… Hay mình sang ở với tớ một nhà cho vui? Khi Thị Nở bê bát cháo hành đến hắn ngạc nhiên bởi đây là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Hắn nhận ra hương cháo hành – hương vị tình yêu thương chân thành, hạnh phúc giản dị mà có thật. Hắn thèm lương thiện, làm hòa với mọi người. Tình yêu của Thị Nở cũng sẽ hé ra cho hắn con đường trở lại tình yêu chân chính đã nhân đạo hóa con người. Chẳng phải tình yêu có phần thô lỗ của người đàn bà xấu xí đã gọi dậy linh hồn người trong con quỷ dữ đó sao?

Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở tấn bi kịch tinh thần của Chí Phèo: bi kịch của con người bị từ chối không được làm người. Khi hiểu ra xã hội không công nhaanh mình, bà cô Thị Nở – định kiến xã hội đã không chấp nhân cho cháu bà đến với Chí. Chí vật vã đau đớn. Hắn càng uống càng tỉnh , hắn ôm mặt khóc rưng rức. Chí quằn quại, đau đớn vì tuyệt vọng, thấm thìa về tội ác kẻ thù. Chí Phèo trợn mắt chỉ tay vào Bá Kiến đòi quyền làm người, đòi lại bộ mặt người đã bị vằm nát. Kẻ thù bị đền tội, và sau đó Chí tự sát. Chí phải chết vì ý thức nhân phẩm đã trở về, không chấp nhận kiếp thú vật. Chí Phèo chết giữa ngưỡng cửa trở về cuộc sống. Chí chết quằn quại trong vũng máu, trong khao khát được làm người lương thiện. Ai cho tao lương thiện là lời nói đanh thép, phẫn nộ, làm người đọc sững sờ và day dứt. Đó vẫn là một câu hỏi lớn không lời đáp.

Chí Phèo của Nam Cao được đánh giá cao chính ở giá trị tố cáo. Thông qua số phận Chí Phèo, Nam Cao phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam lúc bây giờ thực trạng người nông dân bị đày đọa, đề nén và âm thầm chịu đựng nỗi tuyệt vọng, liều lĩnh phản ứng cực đoan. Nam Cao cũng bày tỏ niềm cảm thông, tình thương yêu đối với người nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hóa, phát hiện ràn chất tốt đẹp vốn có của họ. Song cũng như các nhà văn hiện thực đồng thời, chưa tìm được cho nhân vật của mình lối thoát. Sau này, bằng con đường cách nạng. Tô Hoài, Kim Lân đã tìm cho nhân vật mình một hướng đi riêng.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 4
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 4

5


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 5

Truyện ngắn Chí Phèo là một trong những kiệt tác của văn học hiện thực khi viết về người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Trong tác phẩm, nhà văn Nam Cao không chỉ phơi bày nỗi khổ của con người, khổ vì đói nghèo, khổ vì tha hóa nhân cách mà còn thể hiện sự đồng cảm, trân trọng với những giá trị “người” bên trong những con người đầy khổ đau, những nạn nhân đáng thương của xã hội ấy. Tinh thần nhân đạo sâu sắc cũng là một trong những giá trị nổi bật làm nên sức sống mạnh mẽ của Chí Phèo trong lòng của mỗi độc giả.

Giá trị nhân đạo hiểu một cách đơn giản nhất, đó chính là sự cảm thông, đồng cảm trước nỗi đau của con người, là sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn của những con người bé nhỏ; giá trị nhân đạo còn thể hiện trong thái độ bênh vực con người, lên án những thế lực bạo tàn đã chà đạp, tước lên quyền tự do, quyền sống của họ.

Phân tích giá trị nhân đạo được nhà văn Nam Cao thể hiện thông qua truyện ngắn Chí PhèoTrong truyện ngắn Chí Phèo, tư tưởng nhân đạo của nhà văn Nam Cao được thể hiện ở chỗ hướng ngòi bút khám phá đời sống bị đọa đày cả về thể xác và tinh thần của những người lao động lương thiện. Chí Phèo là anh canh điền hiền lành, lương thiện nhưng cuộc sống bất công đã đẩy Chí đến con đường lưu manh hóa, trở thành con quỷ dữ làng Vũ Đại. Thế nhưng, tác giả Nam Cao không lên án Chí như một thứ người- vật như bao người dân làng Vũ Đại mà ông đã hướng ngòi bút đến khám phá đến nội tâm sâu thẳm của con quỷ dữ ấy.

Bên ngoài vẻ bất cần, liều lĩnh của kẻ chỉ biết “rạch mặt ăn vạ” lại là bản chất của một người nông dân lương thiện với những khát khao bình dị “chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải”. Và khi ý thức được bi kịch khủng khiếp của cuộc đời mình, khi biết không thể quay lại con đường lương thiện như mình khao khát thì Chí thà lựa chọn cái chết chứ kiên quyết không chịu làm con quỷ dữ nữa. Thế mới thấy bên trong những con người bị tha hóa cả về nhân hình lẫn nhân tính như Chí Phèo vẫn tồn tại những phần rất người, đó là bản chất lương thiện sáng trong mà hoàn cảnh đen tối của xã hội không thể diệt trừ mà chỉ có thể làm nó bị tê liệt.

Thị Nở là người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn, lại dở hơi, nhà có mả hủi nhưng bên trong diện mạo xù xì, gớm ghiếc ấy lại là tình thương đầy ấm áp, là tấm lòng thiện lương đáng quý. Và cùng chính sự quan tâm, thương yêu chân thành của Thị Nở đã cảm hóa và thức tỉnh phần nhân tính còn lại bên trong Chí Phèo. Cũng từ khi gặp được Thị, Chí Phèo đã nhớ về những mơ ước bình dị khi còn trẻ, khát khao được lương thiện và làm hòa với mọi người.

Cũng qua tấn bi kịch tha hóa của Chí Phèo, tác giả Nam Cao đã cất lên tiếng kêu cứu đầy thảm thiết và phẫn uất khi giá trị của con người bị cái đen tối, bất công của xã hội chà đạp, tha hóa. Từ đó tác giả đặt ra vấn đề nhức nhối: làm thế nào để cứu con người khỏi cái xã hội vùi dập vô nhân tính ấy, mang đến cuộc sống chính đáng để con người được sống lương thiện. Cần phải tiêu diệt xã hội bất công không tình người ấy để con người được sống nhân đạo hơn.

Không chỉ phơi bày bi kịch của người lương thiện khi bị chà đạp, tha hóa về nhân hình, nhân tính tác giả Nam Cao còn lên án gay gắt hiện thực xã hội phong kiến bạo tàn đã gây nên bao bi kịch cho con người. Đại diện cho giai cấp thống trị ở đây chính là Bá Kiến, lão cường hào ma mãnh, xảo quyệt của làng Vũ Đại, một tay hắn đã đẩy bao kẻ vào con đường tha hóa, phá nát bao cơ nghiệp của những người dân bất hạnh. Đến cuối tác phẩm, tác giả Nam Cao đã để cho Chí Phèo vung dao lên để giết chết Bá Kiến, thể hiện thái độ phẫn uất trước sự tồn tại của cái bạo tàn, xấu xa.

Tuy nhiên, Bá Kiến chết thì vẫn còn Lí Cường, Chí Phèo chết thì cũng sẽ còn bao kẻ lương thiện khác cũng có thể tiếp tục bị đẩy đến con đường lưu manh hóa. Chỉ có thể bảo vệ cuộc sống lương thiện của con người khi xã hội phong kiến bạo tàn, chế độ người bóc lột người bị tiêu diệt.

Tư tưởng nhân đạo của nhà văn Nam Cao còn được thể hiện thông qua thái độ đồng cảm, trân trọng đối với giá trị của con người. Đó là phần lương thiện bên trong con người Chí Phèo, tình thương yêu đáng trân trọng bên trong Thị Nở. Nam Cao đã thể hiện thái độ trân trọng đối với những con người ở đáy sâu tăm tối của xã hội để thấy được ánh sáng tình người bên trong con người họ.

Có thể nói Chí Phèo là truyện ngắn mang giá trị nhân đạo sâu sắc khi hướng đến đồng cảm, trân trọng giá trị bên trong tâm hồn của những con người bất hạnh, nạn nhân của xã hội.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 5
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 5

6


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 6

Giữa những bộn bề phức tạp của buổi chợ phiên văn chương , giữa những náo nhiệt đông đúc của gian hàng hiện thực phê phán, Nam Cao được nhận là một chủ cửa hàng khác đặc biệt với tấm lòng nhân đạo và tình thương dành cho những người nông dân trước cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhà văn đã đưa người đọc đi sâu khám phá cái đẹp ẩn sâu bên trong của những số phận bất hạnh, những con người “cùng hơn cả dân cùng”. Tiêu biểu cho cuộc hành trình gian truân vất vả ấy là truyện ngắn “Chí Phèo” . Đọc tác phẩm ta sẽ thấy rõ được tư tưởng nhân đạo cao cả cùng tình thương và nam cao dành cho nhân vật của mình.

Quả không sai khi nói rằng, mỗi tác phẩm văn học là kết quả được nhào nặn từ đời sống. Nếu tác phẩm văn học chỉ là sản phẩm của hư cấu và tưởng tượng mà không mang hơi thở đời sống thì sẽ không chuyển được cảm hứng đến với bạn đọc, văn học bao giờ cũng là chuyện cuộc đời mang trong mình sứ mệnh cao cả của một nhà văn khi sáng tạo nghệ thuật. Nam Cao đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại thông qua các tác phẩm của mình, đồng thời tìm ra cho mình một lối đi riêng khác hẳn với những nhà văn cùng thời đầu. Đọc tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao ta sẽ thấy rõ được điều đó. Đây là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Nam cao được viết năm 1941. Đầu tác phẩm có tên “cái lò gạch cũ”, sau đó Nhà xuất bản tự ý đổi thành “đôi lứa xứng đôi”, đến năm 1946 nhà văn quyết định đặt tên tác phẩm là “Chí Phèo”.

Không giống như “chị Dậu”, trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, anh Pha trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan phải chịu nỗi đau về mặt vật chất bị cái nghèo đầy đọa, nhưng vẫn giữ được danh dự nhân phẩm, Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao lại phải chịu nỗi đau đớn về mặt tinh thần bị mọi người đẩy ra khỏi xã hội, cự tuyệt quyền cơ bản nhất đó là quyền làm người. Đọc tác phẩm chúng ta sẽ không khỏi xót xa với những nỗi khổ đau Chí Phèo phải chịu đựng, để từ đó chúng ta cảm nhận được tấm lòng nhân đạo, sâu sắc và Nam cao dành cho Chí Phèo từ đó cứu rỗi linh hồn đầy tội lỗi, rồi đây khao khát được làm người nơi Chí Phèo.

Cả cuộc đời Chí Phèo vốn là một con số 0 tròn trĩnh, không cha, không mẹ, không nhà cửa, không tấc đất cắm dùi, ngay từ khi sinh ra chí đã bị cha mẹ ruồng bỏ quân hắn vào cái váy đụp rách bỏ ở cái lò gạch cũ vắng người qua lại, may mắn thay một anh thả ông luôn đi qua nhìn thấy hắn từ đó chị lớn lên trong tình thương và sự cưu mang của cả dân làng Vũ Đại. Năm 18 tuổi Chí làm canh điền cho nhà lý kiến. Khi đó hắn là một anh nông dân hiền lành, chăm chỉ, hắn cũng đã từng mơ về một ngôi nhà ở đó vợ chồng hạnh phúc bên nhau, vợ dệt vải nuôi tằm, chồng cuốc mướn cày thuê, rồi chúng bỏ một con lợn ra nuôi khá giả thì mua dăm ba sào ruộng. Nhưng có ai ngờ thân phận nô lệ đâu để cho hắn yên khi thói dâm dục của bà 3 ý kiến nổi lên cùng thói ghen tuông của lão cũng là lúc Chí Phèo bị đẩy vào tù để rồi 7, 8 năm sau ra tù chí đã trở thành con quỷ dữ của cả làng vũ đại bị mọi người xa lánh, sợ hãi.

Hắn về lớp này trông khác hẳn không ai nhận ra Chí là ai, cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cao trắng hơn, cái mắt đen lại rất cơn cơn trông đặc như thằng răng đá, hắn mặc cái quần đen, cái áo tay vàng, cái ngực phanh để lộ những hình chạm trổ rồng phượng, cái chân hình một ông tướng cầm trùy trông gớm chết. Không chỉ thay đổi về nhân hình, chí còn thay đổi cả về nhân tính, hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy hắn ngồi uống rượu với thịt chó từ trưa đến chiều say là hắn chửi. Hắn chửi trời, chửi đất, chửi cả dân làng Vũ Đại nhưng chẳng ai đáp lại tức mình hắn chỉ đứa chết mẹ nào đẻ ra thằng Chí Phèo. Không phải ngẫu nhiên mà mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã bắt đầu bằng tiếng chửi của chí, tiếng chửi của chí thể hiện sự khát khao muốn được giao hòa, giao cảm với con người với cuộc đời. Nhưng đáp lại tiếng chửi của chí chỉ là tiếng của ba con chó giữ, là con người vậy mà chỉ có 3 con chó dữ đáp lại tiếng hắn. Vậy chẳng khác nào hắn đã bị đánh tụt từ hàng con người xuống hàng con vật, chính trong cơn say ấy ý chí đã bị Bá Kiến lợi dụng biến hắn trở thành tay sai đắc lực của lão từ khi hắn đã trở thành con quỷ dữ của làng vũ đại, phá nát biết bao gia đình.

Đọc tác phẩm ta cứ tưởng rằng cuộc đời của chí sẽ trượt dài trên con đường của sự tha hóa và biến chất, nhưng với tấm lòng nhân đạo cao cả, Nam Cao không hề trách giận Chí Phèo và ngược lại ngòi bút của ông hướng về nhân vật vẫn tràn đầy yêu thương. Ông đã cho Chí Phèo gặp Thị Nở để rồi cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên nhưng định mệnh này đã khơi gợi tính người nơi Chí Phèo, với lại ở Chí Phèo khát khao được làm người, ban đầu chí phèo gặp Thị Nở chỉ bằng bản tính thú vật của một gã say rượu nhưng nào ngờ Thị Nở người đàn bà xấu như ma chê quỷ hờn ấy lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã nhói vào trái tim đã cằn cỗi, u mê của Chí Phèo để đưa Chí Phèo trở về thoát khỏi tội lỗi. Sau đêm ăn nằm với Thị Nở, lần đầu tiên sau những cơn say Chí hoàn toàn tỉnh táo.

Hắn cảm thấy như mặt trời đã lên cao và nắng vàng rực rỡ, người hắn nghe thấy tiếng của những người đi chợ về, tiếng của anh thuyền chài có mái chèo đuổi cá . Những âm thanh này hôm nào mà chẳng có nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy . Những âm thanh quen thuộc bỗng chắp cánh cho ước mơ ngày xưa quay về để Chí Phèo chìm đắm trong hồi tưởng với ước mơ về một căn nhà nhỏ, một gia đình hạnh phúc. Đọc đến đây ta bỗng nhớ đến những tiếng sáo trong ‘Vợ Chồng A Phủ” của Tô Hoài . Chính tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân đã khiến khao khát sống với Mị được trỗi dậy mãnh liệt… Tỉnh bơ trong dòng suy nghĩ Chí như thấy được tuổi già ốm đau bệnh tật nhưng sợ nhất vẫn là sự cô độc. May mà Thị Nở bước vào không thì Thị khóc lên được mất. Thị cắp một cái rổ bên trong có đựng một nồi gì đậy vung, đó chính là nồi cháo hành thơm phức.

Thị Nở múc cháo ra bát cho Chí Phèo cầm lấy bát cháo hành trên tay Chí Phèo húp thật ngon lành, hắn chợt nhận ra cháo hành rất ngon và đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà cho mà không cần phải cướp giật. Chí Phèo cảm thấy yêu Thị Nở và mong muốn Thị sẽ là cây cầu đưa Chí Phèo trở về làm người. Đã có ý kiến nhận xét Thị Nở chính là vị thiên sứ mà Nam Cao phải đến để thức tỉnh Chí Phèo. Thiên sứ ấy không có đôi cánh của thiên thần nhưng lại có bàn tay ấm áp như ngọn gió, ngọn lửa, ngọn gió thổi bay lớp bụi u mê nơi trái tim còn ngọn lửa thiêu đốt lớp vỏ quỷ dữ cho Chí Phèo trở về làm con người lương thiện. Cùng với đôi bàn tay ấm áp, bát cháo hành cũng là một yếu tố quan trọng lay tỉnh Chí Phèo, nó như một liều thuốc giải độc vượt giữa lớp men rượu đánh thức tâm hồn đầy tội lỗi của Chí Phèo, thế nhưng cuộc đời thật trớ trêu khi mà xã hội còn đầy rẫy những định kiến thì khao khát trở về với cuộc sống của mỗi con người thực sự là rất khó khăn.

Thị Nở cùng tình yêu của thị giống như một cây cầu vồng lung linh bảy sắc, xuất hiện rồi biến mất sau cơn mưa, chí chưa bước chân lên cầu thì cây cầu đã rút ván. Những lời cay độc của bà cô mà Thị Nở trút lên đầu chí phèo đã khiến hắn hiểu ra mọi chuyện. Chỉ trong chốc lát mọi hi vọng mọi ước mơ đều vỡ vụn quá đau khổ Chí Phèo lại tìm đến rượu nhưng rượu đã không còn đủ sức để làm mờ lý trí, rồi hắn ôm mặt khóc rưng rức. Phẫn uất , Chí Phèo xách dao đi trả thù miệng thì nói là đến nhà Thị nở để đâm chết con đĩ Nở, con khọm già. Nhưng chân lại đưa hắn đến nhà bá kiến .Có lẽ lúc này hơn ai hết Chí Phèo đã hiểu ai mới là kẻ đã xóa tên mình ra khỏi cuốn sổ của những con người lương thiện trong cuộc đời tăm tối của Chí Phèo.

Giây phút hắn vung dao lên để kết liễu tên cáo già Bá Kiến là những giây phút rực rỡ nhất . Chí cũng đã phải quyên sinh , một cái chết quằn quại đau đớn trên vũng máu tươi trở về làm người. Câu hỏi của Chí “ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất đi những vết mảnh trai trên mặt này” vút lên đầy đau đớn đánh thẳng vào bộ mặt xã hội đầy bất công lúc mấy giờ để lại nhiều trăn trở cho bạn đọc. Có lẽ Nam Cao chưa thực sự tìm ra lối thoát cho nhân vật của mình nhưng cái chết của Chí Phèo đã thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Nhà văn để nhân vật của mình chết đi là mong muốn chí phèo có thể giữ lại chút lương thiện cuối cùng của mình.

Với cách xây dựng nhân vật độc đáo, ngôn ngữ sắc lạnh giàu tính khẩu ngữ, câu văn giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm đã cho ta thấy được cuộc đời đầy đau khổ của những người nông dân trước cách mạng tháng 8 phải chịu và sự đồng cảm yêu thương trân trọng mà tác giả dành cho họ.

Chí Phèo đã chết nhưng vẫn còn đó những câu hỏi đầy ai oán không có lời giải đáp, cùng với chị Dậu, anh Pha, Chí Phèo đã khẳng định phải có một cuộc cách mạng để thay đổi cuộc sống lúc bấy giờ. Đồng thời những nhân vật ấy nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng hơn những hạnh phúc mà mình đang có, đồng thời phải biết cống hiến để xây dựng cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn./.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 6
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 6

7


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 7

Nam Cao được mệnh danh là nhà văn có tấm lòng nhân đạo lớn. Chính ông là người đã mang đến cho văn học Việt Nam một cái nhìn rõ nét hơn về con người. Trong đó có truyện ngắn Chí Phèo, đã làm nổi bật lên một ngòi bút luôn tha thiết tình yêu dành cho con người.

Giá trị nhân đạo được xem là giá trị cơ bản nhất của tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn dành cho người dân và cuộc sống.Luôn biết cách nâng niu, trân trọng những giá trị của họ. Bảo vệ họ bằng lẽ phải và lên án những điều xấu xa. Trong tác phẩm Chí Phèo của mình, Nam Cao đã góp một tiếng nói nhân đạo sâu sắc, tình cảm gắn liền với số phận bi thương của họ, mở ra cho họ một cách suy nghĩ khác và tha thiết trân trọng giá trị bên trong của họ.

Ở Chí Phèo, lúc trước khi trở về thành kẻ lưu manh. Hắn từng là một anh nông dân có trái tim lương thiện và ấm áp. Một người từng chỉ có ước mơ nho nhỏ “chồng cày cuốc mướn” và “vợ dệt vải” Đó là anh nông dân giàu lòng tự trọng, cái gì không thích thì hắn khinh, biết phân biệt giữa tình yêu cao thượng và tình cảm giác nhục dục thấp hèn. Những lần bị bà ba gọi lên bóp chân cho, Chí Phèo chỉ cảm thấy nhục chứ đâu có yêu đương gì hắn đâu..

Nhưng, sau đó, Chí đã biến thành một con người khác, Bá Kiến, một tay sai đắc lực của chế độ thực dân phong kiến đã khiến Chí trở thành một người khác. Một kẻ lưu manh theo đúng nghĩa. Chí không còn là một anh nông dân hiền lành như đất, nơi ấy đã khiến trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” . Qua đó là thái độ lên án phê phán gắt gao của Nam Cao dành cho xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Nhấn mạnh sự khốn cùng của con người..

Sau đó, Chí gặp Thị. Một cơn gió mang lại cho Chí giấc mơ năm xưa, con người năm xưa được thức tỉnh bằng bát cháo hành ấm nóng tình người. Chí lần đầu tiên được một người đàn bà cho cái gì đó. Mọi khi hắn toàn cướp giật, dọa nạt, Hắn thấy sợ, sợ già, sợ bệnh… và nhất là sợ cô đơn. Hắn khát khao trở lại thành người lương thiện, sự thèm khát lương thiện biết bao… “Thị Nở có thể sống yên ổn với hắn thì sao với người khác lại không thể được” Nam Cao đã nâng cao giá trị của một kẻ lưu manh, để hắn nhận ra số phận của mình. Qua đó khẳng định khát khao được sống làm người chính đáng của họ.

Nhưng, Chí Phèo cuối cùng cũng chết, cái chết như một vòng luẩn quẩn không hồi đáp. Và Chí chỉ còn là con người trên ngưỡng cửa của sự lương thiện. Cái chết Chí Phèo là hồi chuông báo động, mang tới sự lên tiếng vì chế độ thực dân đã đàn áp và tha hóa con người. Nam Cao không hề có ý định bôi nhọ người nông dân , trái lại ông đã khẳng định cao giá trị nhân phẩm của họ. Điều đó chứng tỏ một con mắt luôn biết nhìn đời nhìn người rất mực sâu sắc của ông.

Nam Cao thực là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy. Những gì ông viết đều chắt từ bầu huyết quản, trái tim dành cho con người. Chí phèo xứng đáng là một tác phẩm mang giá trị nhân đạo sâu sắc, khi thời gian có qua đi, nhìn lại ta vẫn nhìn thấy một chí phèo ngật ngưỡng bước ra. Khẳng định giá trị một tác phẩm chân chính và nhân đạo sâu sắc, độc đáo.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 7
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 7

8


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 8

Tác phẩm Chí Phèo khép lại ở trang cuối cùng với một cảnh tượng đầy hãi hùng hai xác chết của hai con người – sinh vật. Cả hai đều làm người nhưng không phải là người: Bá Kiến và Chí Phèo. Máu me loang lỗ, lênh láng khắp hai cái xác khiến chúng ta giật mình tự hỏi và hỏi Nam Cao: Đâu là hiện thực? Đâu là nhân đạo?

Toàn truyện Chí Phèo là một sức căng. Nam Cao đã đưa người đọc lạc vào cung bậc khác nhau của những sự căng thẳng về thần kinh bởi nhưng câu chửi choang choang của Chí, bởi những cơn nốc rượu như nước, bởi những lần rạch mặt ăn vạ ghê rợn. Tưởng thế đã là đáng nhớ lắm, Nam Cao còn bất ngờ đưa tay, lia ngòi bút một lần cuối để kết thúc bản nhạc của mình, cả trang sách như rung lên khi Chí vung dao chém vào người Bá Kiến và tự kết thúc cuộc đời mình.

Khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan… ra đời, mấy ai còn có thể tưởng tượng tới một cảnh đời nào bần cùng hơn, bế tắc hơn, tủi cực hơn thế. Tưởng như cuộc sống chị Dậu và anh Pha đã là tột cùng của nỗi khổ đau ở đời. Nhưng cùng hơn cả những con người bần cùng đó, vẫn có Chí Phèo đã bước ra từ trang sách của Nam Cao, là hiện thân đầy đủ của “những gì là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa: bị giày đạp, bị cào xé, bị hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình. Chị Dậu, anh Pha dù có khổ mấy vẫn được công nhận là người. Còn Chí, con người hiền lành, chất phác qua lần vào tù ra tội đã bán cả nhân tính, nhân hình để trở thành con quỷ dữ làng Vũ Đại.

Thoát được cửa tù con, Chí Phèo lại ra vào cửa tù lớn và lần này thì mãi mãi, Chí bị khóa chặt trong cuộc đời thú vật mà chế độ “ban” cho. Từng ấy bất hạnh đáng được để cho nhân vật nổi loạn lắm, nhưng ngòi bút Nam Cao tỉnh táo và sắc sảo, đủ điều kiện cùng nhân vật đi đến cuối truyện. Mọi cái được nâng lên với mức độ cao hơn khi Chí Phèo với ý định đến nhà thị Nở, quen chân thuận đường lại đến nhà Bá Kiến; vô tình một cách có ý thức, Nam Cao cho nhân vật của mình lại đi lệch đường, nhưng đúng hướng, đúng cái đích mà Nam Cao vạch ra cho nhân vật của mình. Cái chết của Bá Kiến đầy bất ngờ, không ai nghĩ rằng con cáo già như Bá Kiến lại có thể chết nhanh gọn đến thế. Với Chí Phèo thì không có gì là không thể bởi sự liều lĩnh của hắn đã được tôi luyện từ lâu rồi trong xã hội cũ. Nam Cao luôn đi tìm nhân phẩm và tình thương yêu chân thật ở những người lao động cùng khổ, bị giày xéo và khinh bỉ. Đây cũng là vấn đề “đôi mắt” mà Nam Cao luôn hướng tới, là đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực và nhân đạo của Nam Cao.

“Trong mảng sáng tác về nông dân của Nam Cao, người đọc thường gặp những nhân vật xấu xí, thô lỗ cục cằn và những chuyện nhục nhã của họ. Chính vì thế mà một số người tỏ ra hoài nghi giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nam Cao. Có biết đâu rằng, chính với đám nhân vật “có vấn đề” đó mà cái nhìn hiện thực và quan điểm nhân đạo của nhà văn mới thể hiện rõ, đầy đủ nhất (Nguyễn Hoành Khung). Nam Cao tỏ ra là một cây bút sắc sảo với cái nhìn tinh tế, nhạy cảm trên bình diện xung đột giai cấp. Với Bá Kiến, Nam Cao chứng tỏ mình hiểu rất sâu xa bản chất của giai cấp phong kiến địa chủ. Với Chí Phèo, Nam Cao cũng chứng tỏ một tâm hồn biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa khơi để tìm ra một điển hình nhất của một hạng người cùng hơn cả dân cùng, chúng ta quen gọi đó là hình tượng nhân vật “lưu manh hóa”.

Qua cách xây dựng những xung đột, mâu thuẫn của truyện. Nam Cao đã chứng tỏ một cảnh quan hiện thực hết sức rõ ràng, mãnh liệt. Ông thấy rõ rằng mối xung đột, mân thuẫn giai cấp ở nông dân – địa chủ, nhất là nông dân đã chín muồi đã đến mức sâu sắc và không gì có thể xoa dịu. Nam Cao xây dựng mối quan hệ Bá Kiến – Chí Phèo trở nên hết sức gay gắt, mối tình dang dở với Thị Nở cũng là cách đổ thêm dầu vào lửa, biến cơn say, cơn buồn, cơn thất tình ở Chí Phèo thành lòng căm hận, tức tối, quyết đến nhà Thị Nở để trả thù. Quy luật lại không phải thế, quy luật đã kéo Chí đi nhưng là đến nhà Bá Kiến, chứ không phải ai khác. Kẻ đáng giết Bá Kiến.

Với cái kết thúc bất ngờ dữ dội của thiên truyện ngắn, Nam Cao đã cho chúng ta thấy kết quả tất yếu sẽ xảy ra, điều đó không thể tránh khỏi. Giai cấp thống trị có thể khôn ngoan, giảo quyệt, mánh khóe, có thể đàn áp, làm lu mờ cả ý thức của người dân thì vẫn còn âm ỉ trong người dân ngọn lửa của lòng căm thù, căm ghét những kẻ bóc lột mình, ở Chí, cho dù tâm trí tê liệt, mọi cái bị “xóa sổ” trong trí nhớ của Chí thì tận trong cơn say, hắn vẫn như mơ màng nhận thấy một điều gì. Đoạn Chí quyết đến nhà Thị Nở để trả thù là biểu hiện bề ngoài, trong tiềm thức chỉ có Bá Kiến, sâu xa nhất trong quá khứ là Bá Kiến, Thị Nở chỉ là hiện tại. Mọi bức bối, uất ức dồn đến lâu ngày, càng dồn nén xuống thì ắt sẽ có ngày bùng nổ. Sự chịu đựng quá tải đã làm bừng tỉnh cơn dại trong Chí, anh quyết đi trả thù đời, đi “đòi nợ”.

Ngòi bút của Nam Cao phải vững vàng lắm trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo thì mới có những trang viết rành rọt, tỉnh táo đến như vậy. Ông tin rằng trong huyết quản của Chí Phèo vẫn chưa cạn hết dòng máu của người nông dân lao động nên đã cho Chí xách dao đến nhà Bá Kiến, không đòi rượu, đòi tiền mà để đòi lại bộ mặt và tâm hồn mình đã bị phá nát, tước đoạt. Chỉ có lòng nhân đạo cao cả mới có thể nhìn thấy được ở con người quái dị như Chí Phèo một lòng thiết tha ham sống. Chỉ có Nam Cao mới thấu hiểu sự khao khát được trở lại làm người của Chí, đó là khi ông miêu tả “tiếng đời thường” thông qua sự cảm thụ của Chí.

Năm ngày liền Chí hiền khô, thậm chí không uống một ngụm rượu. Đó là nhờ có Thị Nở đà mang tình yêu thương đến với Chí, mặc dù đó là thứ tình cảm dở hơi, không ý thức. Chi tiết bát cháo hành nóng hổi đã sưởi ấm lại con người Chí, kéo hắn về với cuộc đời. Khốn nạn thay, xã hội phong kiến đương thời cũng không để Chí yên thân mà hưởng niềm hạnh phúc nhỏ bé đó, bà cô của Thị Nở cũng chính là một thứ công cụ của xã hội đầy định kiến, ngăn cản Thị Nở trở lại với Chí. Khi bàn tay nhân đạo đã rụt lại, Chí Phèo lại trở về với con người hàng ngày của mình: say rượu, hung dữ. Nhưng chính quãng thời gian ít ỏi được sống bên Thị Nở đã tác động vào suy nghĩ của Chí.

Lúc này, anh có ý thức sống cho chính mình hơn, đòi hỏi cho mình một lẽ sống, một sự công bằng đã bị tước đoạt. Giết chết Bá Kiến mới chỉ đạt được một nửa công việc, Chí Phèo hoàn thành nốt “công việc” còn lại bằng cách tự giết luôn cả mình. Nếu còn sống, Chí Phèo vẫn tiếp tục cuộc đời quỷ dữ của mình, vẫn phải đối chọi với con trai của Bá Kiến. Ta còn nhớ Nam Cao đã cho một nhân vật của mình ăn bả chó tự tử, đó là lão Hạc. Nay ta lại thấy Chí Phèo tự kết liễu mình. Phải chăng, với suy nghĩ riêng của Nam Cao, những con người quá khốn khổ, quá cùng quẫn thì chỉ có cái chết mới giải thoát được tất cả? Chí Phèo phải chết mới chấm dứt cuộc đời nhục nhã của mình để hóa kiếp sang một con người khác tốt đẹp hơn?

Chí Phèo chỉ ao ước trở lại làm một người lao động bình thường với mối tình Thị Nở, nhưng không được. Cách xây dựng nhân vật của Nam Cao thật độc đáo. Chí Phèo vừa là một gã mất trí, công cụ nguy hiểm trong tay bọn thống trị, lại vừa là nô lệ thức tỉnh, trở thành con người có đầu óc sáng suốt nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có ý nghĩa khái quát sâu sắc vượt quá mức thường ngày, vượt quá tầm khôn ngoan lọc lõi của Bá Kiến: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này?” Nỗi ray rứt rất con người, đầy nhân văn này lại được thốt ra từ miệng một kẻ chuyên uống rượu say mềm. Bá Kiến cũng bất ngờ, mất cảnh giác nên Chí đã dễ dàng sát hại. Diễn biến rất hợp lí, từng chi tiết nhỏ đều rất tôn trọng “chủ nghĩa hiện thực”.

Chí Phèo ngay sau đó cũng tự kết liễu đời mình bởi trong giây phút điên cuồng đó, hắn đã tỉnh táo hơn bao giờ hết và ý thức được mọi điều mình làm. Không tự giết, Chí Phèo cũng sẽ phải chết vì con trai Bá Kiên còn đó, vì bao đối tượng khác luôn lăm le muốn xóa sổ hắn. Giết được Bá Kiến, Chí Phèo như lấy lại được thanh danh cho mình, như đã hài lòng về bản thân, cảm thấy không cần phải sống để đòi nợ ai nữa. Hắn không chết cũng sẽ không còn ai cho hắn tiền uống rượu, không còn Bá Kiến cho hắn rạch mặt ăn vạ nên hắn chết. Có những cái chết bế tắc, nhưng cái chết của Chí Phèo lại là bước mở đầu cho sự sống, cho sự tháo cũi xổ lồng, giải thoát cho chính mình.

Viết nên những trang sách ấy, Nam Cao vẫn chưa ý thức đầy đủ về sức mạnh vĩ đại của quần chúng lao động, sức công phá mãnh liệt của những kiếp người nô lệ, nhưng ông đã lờ mờ nhận thấy một sức sống tiềm tàng trong con người lao động bị áp bức. Đằng sau sự dàm chém hài hùng kia có cái gì như là sự vật vã tuyệt vọng đang cố vùng vầy để thoát khỏi nó. Bi kịch của Chí không phải là sự nghèo hèn vật chất, thứ vị xã hội mà ở chỗ là người mà không được xã hội loài người dung nạp. Sống trong sự thờ ơ lẫn sợ hãi, xa lánh của mọi người càng làm cho Chí cùng thêm, liều thêm cho đến khi ý thức được điều đó thì hắn chỉ còn biết tìm đến cái chết.

Thực ra, trong chuỗi ngày dài trong đời hắn, hắn không hề biết mình đang sống, hắn chưa biết đến cái chết nghĩa là hắn chưa sống. Kết thúc truyện hắn đã tìm đến cái chết, cũng là lúc hắn nhận biết được cuộc sống thú vật của hắn. Còn Bá Kiến, sẽ còn Chí Phèo. Hết Bá Kiến, Chí Phèo cũng không tồn tại. Ở đây ta còn thấy một sự thâm thúy sâu xa của Nam Cao khi cho cả hai nhân vật tồn tại song song và có vai trò tác động lẫn nhau. Nếu không phải là Bá Kiến thì anh Chí ngày xưa chưa hẳn đã là Chí Phèo bây giờ. Bởi ở Bá Kiến là cả sự khôn ngoan lọc lừa, một kẻ biết ném đá giấu tay.

Nam Cao có lần đã nói: Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ kiếp lầm than. Đó là lời của Điền (Trăng sáng), nhưng cũng là nỗi băn khoăn trong cuộc đời cầm bút của Nam Cao. Ngòi bút của ông hướng về người dân lao động nghèo khổ nhiều khi là những con người xấu xí như Chí Phèo, Thị Nở… Ông cố tình đưa cái khuôn mặt rách nát của Chí hay khuôn mặt kì dị của Thị vào trang viết bởi chỉ với nhân vật như thế, Nam Cao mới tố cáo hết sự tàn bạo của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ tột cùng của người nô lệ.

Trong Chí Phèo,Nam Cao đã tập trung xoáy sâu và làm nổi bật lên mâu thuẫn xã hội cơ bản ở nông thôn: đó là mâu thuẫn cực độ giữa người dân lao động bị I áp bức và bọn thống trị, địa chủ chuyên bóc lột. Kết cục bi thảm của truyện chính là kết quả tất yếu, không tránh khỏi mâu thuẫn đó. Nam Cao rất tôn trọng bút pháp hiện thực, vì vậy, khi viết ông không ngần ngại đưa vào truyện những chi tiết trần tục như việc tả Chí Phèo và Thị Nở ở đêm trăng. Cả hai con người gàn dở ấy cũng khao khát yêu đương, cũng có những ham muốn rất con người, nếu ngòi bút Nam Cao không chân thực thì chúng ta không thể thấy hết điều đó. Càng hiện thực, càng cho chúng ta thấy một Nam Cao đầy lòng vị tha, nhân ái, một tấm lòng nhân đạo cao cả.

Bi kịch ở cuối truyện là sự bứt phá, tự giải phóng cho nhân vật. Nam Cao lồng cả tình cảm của mình vào để gián tiếp bộc lộ lòng căm thù sâu sắc của mình đối với chế độ và sự yêu thương, trân trọng với giai cấp nông dân. Bá Kiến chết đi là mong muốn của sự kết thúc một chế độ đen tối bất công. Chí Phèo chết đi là cách duy nhất Nam Cao hóa kiếp cho loài người đau khổ, chỉ có cái chết mới giải thoát được cho họ. Cái nhìn của Nam Cao tuy hơi cực đoan, bế tắc song nó hợp với logic của truyện ngắn. Khi cái xấu xa đã ăn sâu vào thành tính cách, phẩm chất của con người thì không còn cách nào thay đổi được, chỉ chết đi mới rủ bỏ được tất cả. Tìm đến cái chết, nghĩa là Chí Phèo đang tìm kiếm sự sống, một cuộc sống thực sự.

Truyện ngắn Chí Phèo đã đánh dấu một sự nghiệp sáng tác lớn của Nam Cao. Ông hiểu rằng phải là hiện thực, văn học mới có ý nghĩa tố cáo sâu sắc chế độ, chỉ có hiện thực mới nhìn thấy hết nỗi đau khổ, dằn vặt trong người dân lao động, và chỉ có hiện thực mới làm nổi bật tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn. Hành động quyết liệt bất ngờ của Chí Phèo trong truyện là một diễn biến hợp lí, thể hiện sự “tháo cũi xổ lồng” của người dân. Tuy nhiên Nam Cao mới chỉ nhìn thấy sự phản kháng ở một con người chứ chưa có ý thức về sức mạnh tiềm tàng trong quần chúng. Nam Cao mới nhìn vào Bá Kiến chứ chưa nhìn vào một hệ thống giai cấp thống trị ở khắp đất nước Việt Nam thuộc địa.

Qua truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã chứng tỏ là một cây viết hiện thực sắc sảo, là “thư kí trung thành của thời đại”, một tấm lòng nhân ái, rộng mở bị ám ảnh bởi số phận đau khổ của kiếp người nô lệ. Chính mảnh đất nơi ông sinh ra đã tác động, ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp sáng tác của ông.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 8
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 8

9


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 9

Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 Nam Cao là người đến sau, trước đó đã có những cây bút như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan.Nhưng có lẽ với Chí Phèo, Nam Cao đã đem lại cho chúng ta những ấn tượng mạnh mẽ không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt ,bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội tàn ác đã chà đạp lên nhân phẩm cuả con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.

Căm ghét xã hôi thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông,yêu thương con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45. Tuy nhiên,trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó là một hiện thực phổ biến lúc bấy giờ.

Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí không cò được là con người mà trở thành con “quỉ dữ”, do những âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một thế lực thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái chan chứa yêu thương, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn cùng thời.

Phải nói rằng trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẫm thấu và thống nhất với nhau khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằn ngoài quy luật ấy. Đi vào tác phẩm mở đầu là cảnh Chí Phèo ngất ngưỡng trên đường vừa đi vừa chửi, từ trời đến người đã sinh ra hắn, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi.

Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ gây gổ v.v.. trong đó Chí Phèo hiện lên như một hiện tượng điển hình. Ta hãy lắng nghe nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già ; nó không phải là mặt người : nó là một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?.

Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nưa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời …..Hắn đâu biết hắn đã phá biết bao cơ nghiệp, đập bao cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện …Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn …” Đoạn văn chất chứ bao nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn có được cuộc sống của một con người. Những năng lực nhận biết vốn có của một con người hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách.

Chí Phèo đã bị phá hủy nhân hình lẫn nhân tính như thế là bởi do đâu? Chúng ta thấy nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa đó mà dường như ông thiên về lí giải và phân tích đâu là cái cội nguồn sâu xa dẫn đến bi kịch đó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá kiến, về nhà tù thực dân, về bà cô Thị nở, về dư luận xã hội …Tong hàng loạt mối liên kết ấy, chúng ta dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo từ một thanh niên hiền lành như cục đất hóa thành con quỷ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thủa lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương ,đặc biệt khi lớn lên chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn. Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già “ khôn rốc đời”, “kẻ ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “ mềm nắn rắn buông”,” Hay ngấm ngầm đẫy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn.

Hay đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng rồi vứt lại trả năm hào vì thương anh túng quá!”. Chính hắn đã lập mưu đẫy Chí Phèo vào tù và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có chí Phèo, Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà còn là phương tiện tối ưu để thống trị: “Không có mấy thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò”, Chính Bá Kiến đã rút ra kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy. Là một kẻ nham hiểm ,nhẫn tâm nhưng Bá Kiến lại hiện ra bên ngoài là một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn hắn bằng cặp mắt “kính cẩn” …

Vì thế mà hắn lường gạt không biết bao nhiêu người dân chất phát lương thiện. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự bị biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm như một nhân vật điển hình cho một bộ phận của giai cấp thống trị. Cùng với hắn là Lí Cường, Chánh Tổng, Đội Tảo, Bát Tùng …chính chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam. …như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện.

Ra khởi tù, hắn trở làng với cái vẻ hung đồ, ương ngạnh được học từ đó. Với bấy nhiêu thôi cũng đã quá đủ để ta cảm nhận. Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lí và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn nhưng chất chứa bên trong biết bai nỗi niềm quằn quại,đau đớn trước thân phận của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực đó là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và dánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gửi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật tha hóa đến tận cùng.

Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của Thị Nở có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỷ hờn, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tăm tối của tâm hồn Chí Phèo, làm gợi dậy tính người ở nơi Chí Phèo. Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã cảm nhận được ánh sáng, âm thanh của cuộc đời – tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chèo gõ mái gọi cá, tiếng lao xao của của người đi chợ bán vải …

Đó là những âm thanh quen thuộc ngày nào chả có nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn, trong cái phút tỉnh táo ấy Chí Phèo như đã trông thấy tuổi già, đói rét và cô độc – cái này còn sợ hơn cả ốm đau. Cũng may Thị Nở mang bát cháo tới, nhìn bát cháo hành bốc khói mà lòng Chí xao xuyến bâng khuâng: Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền! “Hắn thèm lương thiện – Hắn khao khát làm hòa với mọi người “… Từ một con quỷ dữ, nhờ Thị Nở, nói đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí … cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào! Bằng chi tiết này, Nhà văn Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ.

Thế nhưng đau đớn thay, rốt cuộc cái mơ ước nhỏ nhoi được làm người lương thiện đó của Chí không đến được với Chí – Ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí – Chí hiểu mình không còn trở về với cuộc sống của cộng đồng lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người vĩnh viễn và không trả lại .Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.

Cái chết của Chí là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đao, và cũng là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết: Hãy yêu thương con người, Hãy cứu lấy con người. Đó là tư tưởng và tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo sâu sắc mà chúng ta cảm nhận từ những trang sách của nhà văn Nam Cao.

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 9
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 9

10


Bình An

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 10

Nhắc đến Nam Cao, người ta nhớ đến một ngòi bút hiện thực phê phán xuất sắc của văn học Việt Nam những năm trước và sau Cách mạng tháng Tám. Đọc văn Nam Cao, đôi lúc người ta không khỏi rùng mình bởi cái sắc lạnh trong ngôn ngữ, trong miêu tả, trong cách nhìn nhận sự việc. Nhưng đằng sau đó lại luôn ẩn chứa một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, xót thương con người, xót thương số phận từ đó mơ ước về một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. ông như chiếc phích nước nóng đã được người đời mệnh danh, ngoài lạnh, mà trong thì luôn ấm nóng tình người. Đọc “Chí Phèo”, tác phẩm thực sự đánh dấu sự nghiệp văn học và định hướng sáng tác của nhà văn, dõi theo cuộc đời và số phận của các nhân vật trong chuyện, ta cảm nhận được một cách thật sâu sắc tấm lòng nhân đạo cao cả ấy.

Nhân đạo là đạo đức thể hiện ở sự thương yêu, quí trọng và bảo vệ con người. Giá trị nhân đạo trong một tác phẩm văn học thường thể hiện ở việc tác phẩm ấy quan tấm như thế nào đến vấn đề con người? Nó ngợi ca gì? Phê phán gì? Thể hiện tình cảm thương yêu, quí trọng con người, hướng tới việc phản ánh ước mơ, nguyện vọng của con người ra sao? Nói tóm lại, một tác phẩm nhân đạo là một tác phẩm hướng tới, đề cao, trần trọng, bảo vệ những giá trị thuộc về con người, xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. ớ mỗi thời kì khác nhau, về mặt bản chất, chủ nghĩa nhân đạo không có gì thay đổi nhưng có nhiều những biểu hiện không giống nhau.

Nếu như trong văn học dân gian, nhân đạo là phát hiện ra vẻ đẹp con người, đề cao và ca ngợi người dân lao động cùng những ước mơ, khát vọng của họ thì trong văn học thời chiến, nhân đạo còn thể hiện ở thái độ lến án, tố cáo, chống lại kẻ thù. Thời bình, nhân đạo là quan tâm đến đời sống thường ngày, không xa lạ, hoa mĩ mà gần gũi, chân thực của con người, hiểu và cảm thông cho những bi kịch do thời đại mang lại của họ. Là một tác phẩm ra đời trong thời kì trước Cách mạng tháng Tám, khi dân tộc ta còn đang chìm trong “đêm trường nô lệ”, cuộc sống nhân dân khổ cực, tối tăm, bế tắc, “Chí Phèo” của Nam Cao đã diễn tả sâu sắc bi kịch của người nông dân trên con đường bị bần cùng hoá, bị tha hoá cả về nhân hình và nhân tính từ đó lớn tiếng phê phán và tố cáo xã hội sâu sắc.

Trước hết, tác phẩm dựng lên một bức tranh hiện thực về cuộc đời và số phận nhân vật bất hạnh. Tất cả những người nông dân trong tác phẩm đều là những người bất hạnh. Bà cô Thị Nở khổ vì cảnh “gái già”, không chồng, không con, o ép mình trong những định kiến xã hội. Thị Nở khổ vì có một hình hài không bình thường, thậm chí là dưới mức bình thường, khổ vì là một người đàn bà dở người… Và hơn tất cả, Chí Phèo nổi bật lên là một điển hình cho những nỗi khổ chung của người nông dân trong xã hội ấy. Chí Phèo bất hạnh ngay từ khi sinh ra: Người ta nhặt được hắn trần truồng, tím ngắt trong cái lò gạch bỏ không. Rồi Chí bị chuyền hết từ tay người này sang tay người khác và cuối cùng năm hai mươi tuổi thì trở thành canh điền nhà Bá Kiến.

Ra khỏi cảnh lang thang, Chí lại rơi vào tay một con cáo già nham hiểm. Vì ghen, Bá Kiến đẩy Chí Phèo vào trong nhà tù, bước đầu quá trình lưu manh hoá, biến hình một anh thanh niên trước đó vốn hiền lành như đất thành một con quỹ. Bằng tình thương và lòng nhân đạo sâu sắc của mình, Nam Cao đã phát hiện ra ở nhân vật một thân phận đầy bi kịch. Đầu tiên, đó là bi kịch của một người bị đẩy vào cảnh bần cùng hoá. Chí Phèo cũng từng là một người nông dân có thân phận nghèo hèn như bao người nông dân khác trong làng Vũ Đại. Hắn phải đi ở dợ, đi làm thuê cho nhà giàu để kiếm cớ sinh nhai.

Nhưng nếu như Chị Dậu bị đẩy vào cảnh bị bần cùng hoá đến cảnh phải bán con, bán chó, gia đình không còn gì có thể bán được nhưng vẫn còn có một mái nhà để chui ra chui vào. Anh Pha của Nguyễn Công Hoan bị đẩy từ một người có chút máu mặt trong làng, có ruộng, có vườn trở thành một kẻ vô sản. Bi kịch bần cùng hoá của Chí Phèo còn đau đớn hơn. Chí Phèo bị bần cùng đến mức phải doạ nạt, phải cướp giật, phải đập phá của người ta mới có cái để ăn, mới có nơi để sống. Bi kịch đầu tiên đã đầy đau xót nhưng bi kịch thứ hai còn đau đớn hơn gấp nhiềú lần. Đó là bi kịch của một con người bị tha hoá, biến chất, biến thành con quỉ dữ của làng Vũ Đại.

Từ một người lương thiện, Chí Phèo bị nhà tù thực dân lưu manh hoá. Rồi Bá Kiến, bằng sự nham hiểm của mình hoàn thiện nốt quá trình tha hoá thằng lưu manh ấy thành con quỉ dữ. Một con người mà bị xã hội của mình gạt ra ngoài lề, một người bị cô độc đến tuyệt đối và cách giao tiếp duy nhất có thể là qua tiếng chửi nhưng đáp lại cũng chỉ là mấy con chó, còn dân làng thì “không ai chịu ra Ịời”; Một kẻ mà người ta tránh như tránh một con vật nào đó rất đáng sợ như Chí cũng thật đáng thương. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, Nam Cao còn khiến người ta xót xa hơn cho Chí Phèo bởi hắn làm tất cả những việc đó trong lúc say.

Chí Phèo say tràn từ hết cơn say này sang cơn say khác. Và “hắn say thì hắn làm bất cứ việc gì mà người ta sai hắn làm”, “hắn đã phá đi bao nhiêu cơ nghiệp, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm đổ máu và nước mắt của biết bao người lương thiện”. Hắn trở thành con quỉ dữ trong mắt mọi người. Chí Phèo trở thành nạn nhân của những mưu mô xảo quyệt, thành nạn nhân của chính xã hội ây. Vì hắn say nên hắn gây tội ác. Và cũng chính vì hắn say nên hắn làm tất cả những điều đó một cách vô thức. Hắn trở thành một công cụ trong tay người khác, càng đáng sợ bao nhiêu hắn lại càng đáng thương bấy nhiêu. Ngòi bút của Nam Cao cứ thế, lạnh lùng, miêu tả một cách chân thực mà không bộc lộ một thái độ chủ quan nào nhưng đọc lên người ta vẫn thấy một tâm hồn cũng đang đau đớn, quằn quại trong những bi kịch của chính các nhân vật của mình.

Nhà văn từng quan niệm: “Đôi mắt của người nghệ sĩ hoàn toàn không phải là đôi mắt ráo hoảnh” của phường ích kỉ mà là đôi mắt của tình thương, đôi mắt của lòng nhân đạo”. Và ông đã dùng đôi mắt ấy để phát hiện, cảm thông cho bi kịch của con người. Đằng sau cái thằng Chí Phèo ngật ngưỡng say rượu tưởng chừng chỉ biết rạch mặt ãn vạ, đánh đập, dọa nạt người khác, Nam Cao phát hiện ra vẫn tồn tại tính người, tồn tại cái mà người ta gọi là lương thiện. Phải có một lòng thương yêu và niềm tin sâu sắc vào con người ông mới có thể khám phá ra trong tâm hồn tưởng chừng như đã thành sỏi đá ấy nhịp đập thoi thóp của một trái tim ấm nóng. Thằng Chí Phèo của hiện tại đã từng là một anh Chí nông dân, hiền lành, nhút nhát, bị bà Ba gọi lên bóp chân còn thấy run.

Anh nông dân ấy đã từng sống lương thiện bằng chính sức lao động của mình, cũng đã từng có những ước mơ lương thiện: “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”.. Không ai có thể tin hay nghĩ rằng cop quỉ dữ ấy có thể một lần lột xác trở lại làm người. Vậy mà Nam Cao lại tin điều đó. ông đã để cho một điều kì diệu xảy ra, dù ngắn ngủi, dù bát thường nhưng là một điều kì diệu vĩ đại, điều kì diệu có hể thay đổi một con người. Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở không chỉ đơn giản là một cuộc đụng chạm về xác thịt. Đó chỉ là khởi đầu. Buổi tối bên bờ sống trong cái rười rượi của trăng chỉ làm khơi dậy thứ tình yêu mang tính bản năng con người. Trận ốm lúc nửa đêm mới thực sự bắt đầu cho những dấu hiệu của sự thức tỉnh. Lần đầu tiên, sau bao nhiêu lâu không rõ, Chí Phèo không say. Lần đầu tiên, hắn cảm nhận được những âm thanh của cuộc sống: “Mặt trời đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ.

Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết. (…) Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chẳng có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy..”. Và cũng lần đầu tiên, sau bao ngày chìm trong men say, hắn biết thế nào là buồn. Một người bắt đầu biết suy nghĩ về cuộc sống có nghĩa là cũng đã biết tự chiêm nghiệm về mình. Và hắn đau đớn khi nhận ra rằng: Hắn là một kẻ trắng tay. Đứng ở bên kia dốc cuộc đời, hắn biết mình đã già, “Ngoài bốn mươi tuổi đầu..”.. Dầu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn, rằng những ước mơ lương thiện từng có ở một anh nông dân lương thiện đã không thể nào thực hiện được, dù chỉ là một phần rất nhỏ.

Và rồi, Thị Nở lại sang. Thị sang mang theo cho hắn bát cháo hành, mang cho hắn sự quan tầm chăm sóc chân thành, mang cho hắn tình yêu và từ đó nhen nhóm lại trong hắn giấc mơ được trở lại kiếp người lương thiện. Tình người cùng với hương cháo hành đã dẫn dắt tính người quay lại trong hình hài của một con quỉ dữ, đánh thức khát khao, đánh thức ước mơ, đánh thức niềm mong muôn được trở về với xã hội loài người. Và hắn hi vọng: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muôn làm hoà với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được. Họ sẽ nhận thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại ai. Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”.

Chí Phèo đâu có hoàn toàn đáng sợ như người ta tưởng. Hắn đáng sự chỉ vì bởi ngườỉ ta đã lợi dụng để biến hắn thành như vậy. Bản tính lương thiện vẫn tồn tại trong con người Chí Phèo và giờ đây, khi được một tình người chân thành cảm hoá, nó được khơi dậy thành một khát khao mãnh liệt. Tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn đã khiến ta thâm thía rằng: “ Chao ôi! Đốì với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tà nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”. Nhưng khi lương thiện và tính người trở về thì cũng là lúc bi kịch được đẩy lên đến đỉnh điểm chỉ còn cách giải quyết cuối cùng là cái chết.

Đến đây, khi lương thiện và ý thức về cuộc đời đã quay trở lại, Chí không thể tiếp tục cuộc đời của một con quỉ dữ nhưng cũng không thể trồ lại làm người. Và Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình. Bằng tấm lòng yêu thương cao cả và ngòi bút nghệ thuật đặc sắc của mình, Nam Cao đã diễn tả một cách sâu sắc diễn biến tâm lí của Chí Phèo từ hi vọng, đến thất vọng đau đớn, phẫn uất và cuối cùng là tuyệt vọng. Chí Phèo quằn quại trong vũng máu cũng là quằn quại trong bi kịch của chính mình. Người ta thấy thương xót cho số phận Chí Phèo còn nhiều hơn là ghét, giận.

Yêu thương con người, phát hiện và trân trọng những ước mơ, khát vọng của họ, thể hiện niềm tin vào cái “thiên lương” trong sáng trong tâm hồn con người, Nam Cao cũng lớn tiếng lên án, tố cáo xã hội tàn ác chà đạp lên quyền sống, quyền làm người, quyền hạnh phúc của con người. Lưu manh hoá Chí Phèo là nhà tù thực dân, còn tha hoá và biến hắn thành con quỉ dữ là Bá Kiến. Chế độ thực dân và phong kiến đã cùng nhau thống trị, đẩy người dân vào cảnh “một cổ hai tròng”, không thể nào ngóc đầu lên được. Làng Vũ Đại là mảnh đất “quần ngư tranh thực” mà ở đó người dân chỉ là những miếng mồi béo bở đế bọn cường hào địa chủ tranh giành, cắn xé.

Bá Kiến có hẳn cả một kho kinh nghiệm để thống trị người ta, để biến người ta thành tay sai của mình, để áp bức, bóc lột. Trong khi hắn chiêm nghiêm, tâm đắc với “đường lối” sáng suốt của mình thì biết bao người dân vô tội vẫn tiếp tục bị đẩy vào cảnh bần cùng, tha hoá. Đã có những Binh Chức, Năm Thọ, Chí Phèo, và không biết sẽ còn bao nhiêu những “Chí Phèo con” sẽ ra đời. Cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến ở cuối truyện là kết quả tất yếu của những mâu thuẫn đã được đẩy lên đến cao trào. Nó thể hiện lòng nhân đạo rộng lớn của nhà văn. Chí Phèo chết là một sự giải thoát, còn Bá Kiến chết là một sự trừng phạt. Tuy tất cả chỉ mang tính tự phát và tương lai phía trước vẫn còn mờ mịt, nhưng nó đã ẩn chứa trong đó khát khao mãnh liệt của Nam Cao về sự thay đổi xã hội, hướng tới xã hội mới tốt đẹp hơn.

Đọc toàn bộ tác phẩm, không thấy xuất hiện một lời bình luận, nhận xét hay thương cảm về số phận nhân vật và những bi kịch trong xã hội. Nam Cao đã miêu tả tất cả với một thái độ lạnh lùng của một ngòi bút sắc lạnh. Nhưng vượt lên trên tất cả, người ta vẫn cảm nhận được ỗ đó tình thương yêu con người sâu sắc. Tất cả làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm nghệ thuật đích thực: “vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn”, “là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn…”

Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 10
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
Bài văn phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo” số 10

Continue Reading

Tin Tức tổng hợp 24h

Top 10 Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao

Văn học Việt Nam 1930-1945 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của nền văn học dân tộc. Bên cạnh sự phát triển của văn học lãng mạn thì văn học hiện thực phê phán cũng có vô vàn tác phẩm để đời. Trong đó không thể không nhắc tới cái tên Nam Cao cùng một loạt các kiệt tác, đặc biệt là truyện ngắn “Chí Phèo”, là bản cáo trạng rõ nét và xác đáng nhất của xã hôi thực dân nửa phong kiến đương thời. Bạn đọc muôn đời nếu nhớ đến hình tượng một Chí phèo chuyên rạch mặt ăn vạ, thì càng không thể quên được hình ảnh bát cháo hành nghi ngút tình thương màn đầy giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành trong tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Published

on

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1

Nam cao đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, đó là tác phẩm Chí Phèo. Các nhân vật trong truyện là những con người hiền lành lương thiện nhưng do xã hội xô đẩy khiến họ thành những con người mất hết lương tri. Hình ảnh bát cháo hành trong truyện chính là phần thưởng quý giá mà tác giả ban tặng cho nhân vật, tạo cơ hội cho nhân vật trở về với cuộc sống đời thường.

Hình ảnh Chí Phèo hiện lên trước mắt người đọc trong những trang đầu của tác phẩm là một người ngang ngược, độc ác, xấu xa. Chí cứ sống trong men say và trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến. Rồi một ngày Chí gặp thị nở, bát cháo hành của thị đã thức tỉnh lương tri đã mất từ lâu của Chí. Nếu như trước đây, Chí chỉ biết uống rượu, chửi bới, dọa nạt, cướp giật, nằm vạ… thì giờ đây khi được ăn bát cháo hành của thị Nở, hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ổi sao mà hắn hiền…? Bát cháo có gì đâu, một chút cháo, vài cọng hành và ba hạt muôi mà hiệu quả thật không ngờ, bát cháo hành quả là liều thuốc giải độc. Nó vừa giúp Chí Phèo thoát ra khỏi cơn Ốm sau khi say rượu vừa khơi dậy bản chất ý thức con người ở Chí. Phải chăng bát cháo hành đơn sơ chân quê đó đã được nấu bằng tất cả tấm lòng yêu thương chân thật của thị Nở? Đúng vậy, “bát cháo hành” tượng hình cho tình cảm của thị Nở với Chí Phèo, một tình cảm dịu dảng, giản dị nhưng đong đầy ân tình, nhân nghĩa… Đó là thứ tình cảm thiêng liêng giữa con người với con người, thứ tình cảm đó có thể cảm hóa được con người, khiến họ từ bỏ những cái xấu xa để sống đúng với bản chất vốn có của một con người.

Từ khi biết làm người đến giờ Chí chưa được ai nấu cho ăn bao giờ, khi nhận được bát cháo của thị Nở, chẳng biết thị nấu ngon dở thế nào nhưng đối với hắn thì đó là bát cháo ngon nhất trong cuộc đời hắn. Chí ăn ngon lành, trong lúc đang húp bát cháo, ta thấy hiện lên trên nét mặt hắn một niềm xúc động, cái thứ từ lâu đã không còn tồn tại trong con người hắn. Đỉnh điểm của sự xúc động ấy đã khiến Chí bật khóc. Hắn đã khóc vì “lần thứ nhật hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay nào hắn có thấy tự nhiên ai cho cái gì… Hắn đã nhìn bát cháo bốc khói mà “bâng khuâng, vừa vui vừa buồn và một cái gì nữa giông như là ăn năn… Tự bao giờ những tình cảm con người đã thức dậy trong tâm can “con vật lạ, con quỷ dữ” của làng Vũ Đại ấy. Bên cạnh Chí, thị Nở múc cháo “nhìn trộm hắn rồi lại cười toe toét. Trông thị thế mà có duyên…”. Lần đầu tiên, Chí đã biết đến cái duyên của một con người.

Rồi hắn nhớ lại khi xưa, nghĩ về quá khứ của mình khi phải săn sóc cho “bà ba”, phải làm những việc xấu xa, hắn đã thấy nhục hơn là thích, rồi hắn thấy sợ. Xưa kia, cũng như bây giờ, hắn thật trong sáng, lương thiện. “Vì vậy bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây thù?” Thật kì diệu, những sự chăm sóc giản dị đầy ân tình và tình yêu thương mộc mạc chân thành của thị Nở đã đánh thức dậy bản chất lương thiện của người nông dân lao động trong hắn. Đây là một đoạn văn tuyệt bút, đầy chất thơ.

Đoạn văn tả cảnh ăn cháo của Chí khiến Chí thành con người thật đáng trân trọng. Bao ngày tăm tối của Chí giờ đã qua, Chí được trở thành một con người bình thường, được hưởng những điều kiện tối thiểu của con người. Khi thị Nở bê cháo đến bên hắn, hắn nhận bát cháo và ăn, “hắn càng ăn mồ hôi lại càng nhiều”, và tât nhiên với một người cảm gió, mồ hôi ra được nhiều là sẽ khỏi. Hắn cũng thế, đỡ khỏi bệnh. Hắn đã cảm nhận được vị ngon của cháo: “Trời ơi! Cháo mới thơm làm sao… những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo ăn rất ngon… Nhưng tại sao mãi đến bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo”. “Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời… Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một tay đàn bà…” Bát cháo hàng đã nói lên tình cảm mà thị dành cho hắn, Một tình cảm ngàn vàng giữa hai con người cùng cảnh ngộ khốn cùng. Phải nói rằng tác giả đã dành rất nhiều tình cảm cho Chí, mới có thể lột tả được nội tâm của Chí chi tiết đến như vậy. Nam Cao đã cho người đọc hình dung được bản chất tốt đẹp, rất đời thường vẫn luôn thường trực trong con người Chí, nó cần có cơ hội mới có thể bộc lộ được.

Thị Nở xuất hiện đúng lúc cuộc đòi Chí không còn một lối thoát, bát cháo hành của thị đến khi Chí thèm được ăn. Chính những điều này đã làm sống lại bản chất lương thiện trong con người hắn. Xây dựng lên hình ảnh thị Nở với bát cháo hành chính là tấm lòng nhân đạo của nhà văn đối với nhân vật của mình. Tác giả muốn chứng minh với người đọc rằng, những con người xấu xa, độc ác, mất hết tính người không phải do tự bản thân họ như thế mà do xã hội đã cướp mất quyền làm người của họ, đẩy họ thành quỷ dữ rồi ghét bỏ họ.

Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1
Bài văn phân tích hình ảnh bát cháo hành số 1

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2


Bình An